Super User
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA MỚI Ở NÔNG THÔN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Tóm tắt:
Văn hóa nông thôn là điểm hội tụ, một bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc. Do đó, xây dựng đời sống văn hóa nông thôn luôn giữ một vị trí quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Phát triển văn hóa ở nông thôn là quan tâm đến phát triển văn hóa từ gốc, là tạo ra những giá trị mới của nông thôn, tạo động lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp và xã hội nông thôn mới.
Từ khoá: văn hoá, văn hoá nông thôn, tư tưởng Hồ Chí Minh.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là quốc gia phát triển từ nền nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ lớn trong xã hội, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước. Chất lượng đời sống văn hóa ở nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần, lối sống và trình độ dân trí của đại bộ phận Nhân dân. Ở dây, các phong tục, tập quán, lễ hội, truyền thống làng xã, tinh thần đoàn kết cộng đồng… được hình thành và bảo tồn cùng với đó, trước yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới, đòi hỏi phải hình thành nếp sống văn minh, nâng cao dân trí, xây dựng con người nông thôn mới có tri thức, ý thức cộng đồng và lối sống tiến bộ. Vì vậy, việc xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn chính là xây dựng nền tảng văn hóa cho bộ phận lớn của xã hội, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số” (1).
Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định, “Tạo lập môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” (2) .
Khẳng định, văn hoá Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc; là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hoá. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, “Văn hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng” (3), do đó việc xây dựng đời sống văn hóa nói chung, đời sống văn hóa ở nông thôn nói riêng nhằm tạo dựng, cung cấp những giá trị văn hóa tiến bộ, văn minh để phục vụ ngày càng tốt hơn đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn
Một là, xây dựng lối sống mới, nếp sống mới
Theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn còn phải tiến hành xây dựng lối sống mới, nếp sống mới, được biểu hiện ở việc sửa đổi 5 khía cạnh là cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại và cách làm việc, “Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa xỉ, loè loẹt. Cách làm việc, phải siêng năng, có ngăn nắp, có tinh thần phụ trách, đã làm việc gì, thì làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn. Chớ làm dối. Cách cư xử, đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ” (4). Đồng thời, Người nghiêm khắc phê bình các hiện tượng tổ chức ăn uống xa xỉ linh đình, gây lãng phí, tốn kém; phê phán các tệ nạn cờ bạc, uống rượu say, trọng nam khinh nữ, bạo lực trong gia đình...
Cùng với đó, Hồ Chí Minh phát động phong trào toàn dân luyện tập thể dục để có sức khỏe tốt vừa nâng cao chất lượng cuộc sống, Người nêu rõ: “Việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dần mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ” (5). Muốn bảo vệ sức khỏe tốt, cùng với việc luyện tập thể dục thì phải giữ gìn vệ sinh trong ăn, mặc, ở, phòng trừ bệnh tật, “Bây giờ mình phải đổi mới nông thôn. Nông thôn mình phải quang đãng sạch sẽ” (6). Theo đó, “Phải tuyên truyền một cách thiết thực và rộng khắp trong nhân dân, gầy một phong trào thể dục vệ sinh, chú trọng củng cố và phát triển thêm các trạm y tế và nơi đỡ đẻ ở xã, làm cho đồng bào hiểu rõ: Phải giữ gìn vệ sinh, ăn sạch, uống sạch, mặc sạch, ở sạch, thì sức mới khỏe; sức càng khỏe thì lao động sản xuất càng tốt” (7).
Trong lao động, sản xuất, Hồ Chí Minh chủ trương vận động nhân dân sản xuất theo phương thức mới là cùng hợp tác với nhau, “Không có con đường nào khác, chỉ có vào tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã, nông dân ta mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất..góp phần quan trọng xây dựng công nghiệp nước nhà” 8), Người đề ra nhiệm vụ cho cấp ủy đảng, chính quyền các cấp là phải “đẩy mạnh việc giáo dục chủ nghĩa xã hội khắp nông thôn.
Hồ Chí Minh yêu cầu cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp chú ý đến nhu cầu hưởng thụ chính đáng của cư dân nông thôn: “Đồng bào nông dân làm ăn cả năm vất vả, khó nhọc, phải có lúc nghỉ ngơi, giải trí. Cần tổ chức những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao” (9).
Xây dựng lối sống mới, nếp sống mới không chỉ sửa đổi hoặc thay mới những phong tục, tập quán lạc hậu, không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại, mà còn phải trân trọng giữ gìn và phát huy các thuần phong mỹ tục: “Nói là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra…Cái gì tốt thì ta nên khôi phục và phát triển, còn cái gì xấu, thì ta phải bỏ đi” (10).
Hai là, xây dựng đời sống văn hóa mới
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Do nhiều người nhóm lại mà thành làng. Do nhiều làng nhóm lại mà thành nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành làng xấu, nước hèn. Nếu mỗi người đều tốt, thì thành làng tốt, nước mạnh. Người là gốc của làng nước. Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường” (11). Vì vậy, muốn xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn, cẩn phải chú trọng xây dựng đời sống văn hóa mới trong mỗi gia đình, trong mỗi làng và mỗi cơ quan, công sở.
Trong mỗi gia đình, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Về tinh thần, thì phải trên thuận, dưới hoà, không thiên tư, thiên ái. Bỏ thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm, phải ăn đều, tiêu sòng. Có kế hoạch, có ngăn nắp cưới hỏi, giỗ Tết nên giản đơn, tiết kiệm.Trong nhà ngoài vườn, luôn luôn sạch sẽ gọn gàng. Đối với xóm giềng, phải thân mật và sẵn lòng giúp đỡ. Đối với việc làng việc nước, phải hăng hái làm gương. Người trong nhà ai cũng biết chữ. Luôn luôn cố gắng, làm cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng”(12).
Trong một làng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Trong một làng, có nhà giàu, nhà vừa, nhà nghèo; có người tốt, người vừa, người kém; …Công việc làm ăn thì có nghề làm ruộng, nghề thủ công và nghề buôn bán. Phải tìm cách giúp đỡ lẫn nhau… Về văn hoá, phải làm cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân. Về phong tục, phải cấm hẳn các tệ nạn như say rượu, cờ bạc, hút xách, mại dâm, trộm cắp. Phải tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau. Làm cho làng trở thành một làng “phong thuần tục mỹ”. Về vệ sinh, đường sá phải sạch sẽ. Ao tắm giặt, giếng nước uống phải phân biệt rõ và săn sóc cẩn thận. Những ao hồ không cần thì lấp đi, cho đỡ muỗi. Phải có nhà vệ sinh chung, hoặc nhà vệ sinh riêng từng nhà. Vừa hợp vệ sinh, lại vừa có nguồn phân bón tốt. Phải tổ chức những hội quần chúng. Nói tóm lại, phải làm cho làng mình trở thành kiểu mẫu về mọi mặt của đời sống cho các làng xung quanh” (13).
Đối với việc xây dựng đời sống văn hóa trong các cơ quan, công sở, Hồ Chí Minh xác định: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước. Những người trong các công sở đều có nhiểu hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” (14).
Ba là, xây dựng một nền giáo dục mới
Giáo dục là một nhân tố quan trọng cấu thành nên đời sống văn hóa tinh thần xã hội nhằm tạo ra những nhân cách phát triển toàn diện, vừa có tri thức văn hóa, vừa có đạo đức trong sáng, có lối sống, nếp sống văn minh, lành mạnh.
Trong bối cảnh có đến 95% dân số bị mù chữ, trong đó hầu hết là ở vùng nông thôn, Hồ Chí Minh chủ trương phát động phong trào bình dân học vụ, huy động lực lượng toàn dân, mọi giới, mọi lứa tuổi tham gia để nhanh chóng diệt trừ “giặc dốt”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ và một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, kiệm, liêm, chính, nhằm “Làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” (15).
Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở việc học tập của người dân không phải chỉ dừng lại ở khả năng biết đọc, biết viết. Người chỉ ra rằng, sau khi đã xóa được nạn mù chữ, người dân phải tiếp tục học tập nâng cao hơn nữa trình độ, kiến thức bản thân, “Về đời sống văn hóa thì xóa nạn mù chữ, thực hiện bổ túc văn hóa, rồi học lên nữa. Xã viên ít nhất phải học lớp 3, lớp Cán bộ và thanh niên ít nhẫt phải học lớp 5, lớp 6. Bà con cần cố gắng học văn hóa. Vì có văn hóa thì mới quản lý hợp tác xã được tốt” (16). Có thể khẳng định, giáo dục là một nhân tố quan trọng cấu thành nên đời sống văn hóa tinh thần xã hội nhằm tạo ra những nhân cách phát triển toàn diện, vừa có tri thức văn hóa, vừa có đạo đức trong sáng, có lối sống, nếp sống văn minh, lành mạnh.
Bốn là, xây dựng các thiết chế văn hóa mới
Ngay từ khi cách mạng còn chưa thành công, Hồ Chí Minh đã rất chú ý đến việc xây dựng, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, trong đó có vai trò của việc xây dựng các thiết chế văn hóa mới. Bởi vậy, khi sáng lập ra Mặt trận Việt Minh, Hổ Chí Minh xác định một trong các điểm trong Chương trình Việt Minh là: “Lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân” (17). Đặc biệt, theo Hồ Chí Minh việc xây dựng các thiết chế văn hóa mới càng phải được chú trọng ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Bởi lẽ đó là những nơi đời sống vật chất và văn hóa tinh thẩn còn nhiều khó khăn, hạn chế, “Phải thấy rằng nói chung văn hóa của ta còn loanh quanh trong thành phố, chỗ dễ ăn, chứ chưa đến chỗ đổng bào Mèo, đồng bào Mán” (18).
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn được Đảng và Nhà nước thể hiện thông qua nhiều chủ trương, chính sách và phong trào thực tiễn nhằm xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân, trong đó chú trọng xây dựng con người mới và lối sống văn hóa ở nông thôn, giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết, cần kiệm, trung thực, trách nhiệm trong Nhân dân. Phát động các phong trào như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Gia đình văn hóa”, “Làng, thôn, bản văn hóa” được triển khai rộng khắp nhằm hình thành nếp sống văn minh trong cộng đồng. Triển khai “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”, trong đó tiêu chí văn hoá là một nội dung quan trọng. Việc xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, thư viện, khu thể thao, điểm sinh hoạt cộng đồng… góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân nông thôn. Bảo tồn các di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, phong tục tốt đẹp của làng xã; đồng thời loại bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
Khẳng định, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn vẫn là nội dung quan trọng và để lại bài học kinh nghiệm sâu sắc cần được kế thừa, phát triển trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, văn hóa mới hiện nay góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
ThS. Nguyễn Thị Cẩm Trang
Giảng viên khoa Xây dựng Đảng
* Tài liệu trích dẫn
1, Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026-2030, H.2026.
2, Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam
3, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.12, tr. 470.
4, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr. 117.
5, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.4, tr.241.
6, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.13, tr.255.
7, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.13, tr.82.
8, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.12, tr. 262.
9, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.13, tr.218.
10, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr. 116-117
11, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr. 116-117.
12, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr. 118-119.
13, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.5, tr.112.
14, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.4, tr.7.
15, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.13, tr.218.
16, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.3, tr.632.
17, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t.11, tr.558.
TRAO ĐỔI TRONG GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÂM ĐỒNG
Tóm tắt: mục tiêu hướng tới Trường Chính trị tỉnh trở thành trung tâm đào tạo lý luận chính trị chất lượng cao, có tư duy đổi mới, góp phần trực tiếp vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng. Do vậy yêu cầu đặt ra cho nhà trường, đó là giảng viên phải chủ động tự học, phân tích sâu sắc và có phương pháp giảng dạy đổi mới, khai thác tình hình kinh tế - xã hội địa phương để minh hoạ các nguyên lý, chủ trương của Đảng, Nhà nước phù hợp với đặc điểm của đất nước và địa phương.
Từ khoá: giảng dạy lý luận chính trị, dạy - học.
Nội dung
Trong giảng dạy lý luận chính trị, người thầy (giảng viên) không chỉ là người truyền đạt tri thức mà còn là người dẫn dắt, định hướng tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chính trị, phân tích thông tin, khơi gợi tư duy phản biện, khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn; còn người học (cán bộ, công chức, viên chức) là đối tượng tiếp nhận kiến thức, phát triển tư duy phản biện, hình thành nhận thức và hành động, cùng nhau tạo nên quá trình học tập tích cực, đổi mới phương pháp, sử dụng công nghệ số và môi trường học tập mở để nâng cao hiệu quả học lý luận chính trị, nâng cao tính hấp dẫn, chủ động và kết nối với đời sống thực tế, chuyển đổi từ lối truyền thụ một chiều sang phương pháp tương tác, lấy người học làm trung tâm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước và địa phương.
Việc gắn kết trong giảng dạy lý luận chính trị giữa giảng viên và học viên là cách kết hợp đào tạo lý luận chính trị với thực tiễn kinh tế đất nước và địa phương, bằng cách biến học viên thành “lực lượng nồng cốt” nghiên cứu, đề xuất giải pháp cụ thể, gắn kết kiến thức lý luận với hoạt động thực tiễn tại địa phương, thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn, biến quá trình học tập của học viên thành “cầu nối” giữa cấp uỷ, chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp, người dân, tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy lý luận chính trị, gắn lý thuyết và thực tiễn sinh động, giúp học viên dễ hiểu, liên hệ trực tiếp địa phương, cơ quan, đơn vị và bản thân, nâng cao tính thuyết phục, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng công nghệ số, sử dụng các hình thức học tập đa dạng (lớp học đảo ngược, thảo luận nhóm…) và đổi mới phương pháp đánh giá (thi hết phần học, khoá luận…) nhằm tạo hứng thú và tính ứng dụng cho học viên, kết nối lý thuyết với đời sống kinh tế. Từ thực tế, xin trao đổi trong giảng dạy lý luận chính trị tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, cần tích hợp, đổi mới phương pháp dạy - học, giúp giảng viên và học viên cả truyền thụ, định hướng và vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề cụ thể tại địa phương, cơ quan, đơn vị, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững.
1. Mối quan hệ và sự đổi mới
Với mục tiêu giúp giảng viên chuyển tải nội dung bài giảng sinh động, gần gũi hơn, tăng tính hấp dẫn và thuyết phục bằng cách mỗi giảng viên phải luôn trăn trở trong từng phần của bài giảng liên hệ lý thuyết với tình hình kinh tế - xã hội, cụ thể thông qua: phân tích chính sách phát triển kinh tế của địa phương, tác động của hội nhập kinh tế đến các thành phần kinh tế…, giảng viên có dẫn chứng, minh hoạ từ các khái niệm, định nghĩa, biến quá trình dẫn dắt của giảng viên từ lý luận sang tự liên hệ thực tiễn của học viên, biến lớp học thành nơi thảo luận vấn đề, giải quyết bài tập tình huống, giúp người học nắm, hiểu sâu sắc hơn về những tiền đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng, Nhà nước, vai trò của lý luận chính trị trong thực tiễn phù hợp với đặc điểm của đất nước và địa phương, thay vì học viên học thuộc lòng, ghi chép, trả bài qua các lần thi... Đây là phương thức vận dụng linh hoạt phương pháp giảng dạy từ truyền thống sang hiện đại, mấu chốt: Một là, sự kết hợp hài hòa, tương tác giữa giảng viên và học viên là yếu tố then chốt. Hai là, cần đổi mới đồng bộ từ nội dung đến phương pháp dạy và học, hướng tới phương pháp tích cực, hiện đại, phát huy vai trò chủ động của người học. Ba là, giảng viên và học viên cùng nhau tham gia cùng học tập, phân tích tình huống, nêu vấn đề cùng tranh luận, phản biện xã hội, nghiên cứu cập nhật các nghị quyết để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập lý luận chính trị…
2. Đối với đội ngũ giảng viên nhà trường
Thứ nhất, truyền thụ kiến thức và định hướng: từ “người thầy” sang “người cố vấn”, “người hướng dẫn”, giảng viên cập nhật kiến thức mới, tạo môi trường học tập, kích thích tư duy và kỹ năng cho học viên. Giảng viên truyền đạt những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giúp học viên nhận thức đúng đắn.
Thứ hai, xây dựng bản lĩnh và “tự đề kháng”: giúp học viên có cái nhìn khoa học, phân biệt thông tin tốt xấu, đấu tranh phản bác với các luận điệu sai trái, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ ba, người hướng dẫn sáng tạo: tạo môi trường học tập sáng tạo, gợi mở, khuyến khích học viên tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy độc lập, phản biện.
Thứ tư, nâng cao chất lượng: chủ động đổi mới phương pháp, nâng cao chuyên môn để đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung giảng dạy.
Thứ năm, đào tạo và tự đào tạo: giảng viên cập nhật kiến thức kinh tế xã hội mới, kỹ năng số cho chính mình. Khuyến khích giảng viên tham gia đi thực tế tại các doanh nghiệp, địa phương để mang kiến thức mới vào bài giảng.
Thứ sáu, mời chuyên gia, báo cáo viên là các nhà quản lý, doanh nhân: tích hợp các buổi báo cáo, chia sẻ kinh nghiệm về quản trị kinh tế, khởi nghiệp, chuyển đổi số. Đồng thời đưa học viên đến tham quan, nghiên cứu thực tế các mô hình kinh tế hiệu quả, doanh nghiệp nhỏ thành công ở địa phương để học hỏi.
3. Đối với học viên
Một là, chủ động tiếp nhận và xử lý thông tin: từ “người học thụ động” sang “người học chủ động”. Tích cực học tập, tự nghiên cứu, tham gia thảo luận, có khả năng xử lý, phân tích các vấn đề và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.
Hai là, phát triển năng lực tự học: hình thành tư duy độc lập, sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự “đề kháng” với thông tin tiêu cực.
Ba là, xây dựng nhận thức và bản lĩnh: nâng cao nhận thức về trách nhiệm, củng cố niềm tin chính trị, nâng tầm nhận thức về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, có bản lĩnh chính trị vững vàng trong việc xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội địa phương...
Kết luận
Việc kết hợp giảng viên và học viên trong dạy - học lý luận chính trị là hướng tới tương tác hai chiều, phát huy tính chủ động của học viên; giảng viên giữ vai trò dẫn dắt, định hướng, “biến” học viên từ thụ động tiếp thu “thành” chủ thể sáng tạo, tự nghiên cứu, tư duy phản biện, cả giảng viên và học viên cùng xây dựng bài học, áp dụng lý thuyết từ bài học lý luận chính trị vào cuộc sống thực tế, nhằm giúp học viên nâng cao hiệu quả tiếp thu, hình thành tư duy khoa học, bản lĩnh chính trị vững vàng, đặc biệt trong bối cảnh 4.0, đòi hỏi phương pháp dạy học tích cực, đổi mới nội dung và ứng dụng công nghệ số... đang và sẽ áp dung linh hoạt tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng.
Dụng Văn Duy
Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng





