Super User
VẬN DỤNG NỘI DUNG “MẤY ĐIỀU KINH NGHIỆM”(1) CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỂ XÂY DỰNG “TRÁCH NHIỆM PHỤNG SỰ”(2) CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Đặt vấn đề: Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; với tinh thần tăng tốc, bứt phát để tiến nhanh, tiến mạnh; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đảng ta đặt ra yêu cầu: “Thực hiện nghiêm chuẩn mực đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, ... Giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành quy định của đảng và pháp luật của Nhà nước, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, coi trọng danh dự của cán bộ, đảng viên”(3). Vận dụng những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nội dung “Mấy điều kinh nghiệm” để đẩy mạnh hơn nữa tinh thần, trách nhiệm phụng sự cho mỗi cán bộ, đảng viên đối với chức trách, nhiệm vụ của bản thân trước “thời cơ, vận mệnh” lớn của đất nước, của dân tộc.
Từ khóa: “Mấy điều kinh nghiệm”; “trách nhiệm phụng sự”; cán bộ, đảng viên
1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trách nhiệm phụng sự của cán bộ, đảng viên
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích về tinh thần trách nhiệm: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy... là không có tinh thần trách nhiệm”(4). Có thể hiểu, nêu cao tinh thần trách nhiệm là cán bộ, đảng viên phải bảo đảm làm tròn nhiệm vụ, công việc, phần việc được giao, với sự ràng buộc đối với lời hứa của mình, nếu kết quả thực hiện không tốt, hoặc nếu thực hiện sai, thất hứa thì phải gánh chịu hậu quả.
Những năm gần đây, vấn đề nêu cao tinh thần trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân của cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta chỉ đạo rất quyết liệt bởi giá trị to lớn trong xã hội, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và khôi phục niềm tin của nhân dân. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc thì vấn đề này càng được đặt ra với một tâm thế mới.
2.Vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Mấy điều kinh nghiệm” để nêu cao tinh thần trách nhiệm phụng sự của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay
“Mấy điều kinh nghiệm” là toàn bộ nội dung phần II trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”(5) do chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947, với bút danh X.Y.Z. Là một vị lãnh tụ “gần dân, sát dân”, bằng kinh nghiệm thực tiễn của mình Người đã chỉ ra những “vấn đề” đang tồn tại trong trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhiệm vụ chính trị được giao. Người chỉ ra “Mấy điều kinh nghiệm” để mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng tự soi, tự sửa, tự nâng cao tinh thần trách nhiệm phụng sự đối với nhiệm vụ cách mạng đặt ra.
Kinh nghiệm thứ nhất: “Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong”(6). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng đinh: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”(7). Cán bộ tốt đó là người có đạo đức, có trách nhiệm và có năng lực để cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, có khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao dù đó là công việc gì. Đứng trước mọi hoàn cảnh đều “tìm cách giải quyết”. Không khuất phục khó khăn, không ngại khó, ngại khổ; không đùn đẩy, né tránh bởi có nhiệt tình cách mạng chắc chắn sẽ thành công.
Trong giai đoạn hiện nay. Đảng ta đã đặt ra yêu cầu phải “…chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ… gần dân, vì dân, sát cơ sở, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ. Nêu cao trách nhiệm, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu”(8). Cán bộ trong thực thi nhiệm vụ “Không nói không, không nói khó, không nói có mà không làm”(9); Để hoàn thành tốt nhiệm vụ cần “bám sát thực tiễn, đánh giá và dự báo đúng tình hình; phản ứng chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, phù hợp; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm; phân công nhiệm vụ bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”(10).
Kinh nghiệm thứ hai, Người đúc rút ra từ thực tiễn: “Chính sách thì đúng, cách làm thì sai”(11); nguyên nhân theo Người “Đó cũng là vì bệnh chủ quan của chúng ta. Cho nên khẩu hiệu tuy đúng, nhưng thực hành không có kết quả mỹ mãn”(12).Và “Một lẽ nữa, cũng vì cách lãnh đạo và cách làm không đúng”(13). “Vả lại, chúng ta tham lam làm nhiều trong một lúc”(14). Trong thực tiễn có những người lãnh đạo, một bộ phận cán bộ, đảng viên họ không thực sự vì chính sách nên cách làm của họ không vì chính sách, không vì mục tiêu chung nên họ không nghiên cứu từ gốc của vấn đề; không biết cách đào tạo cán bộ; tham một lúc nhiều việc chỉ để được danh, khẩu hiệu cho oai.
Từ kinh nghiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đang ta yêu cầu cán bộ, đảng viên phải khắc phục tình trạng: “Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán”(15). Đồng thời “đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; … phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên;… đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở” (16).
Kinh nghiệm thứ ba, Người chỉ ra “Không biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc”(17); Người phê bình “trong các cuộc vận động, chúng ta không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn để mà học kinh nghiệm cái tốt, cái hay vì vậy cái tốt, cái hay đều không phát triển được. Mặt khác công việc xong rồi là thôi, cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy”(18). Đồng thời, “chúng ta không ra sức nghiên cứu những sự khó khăn, những chỗ sai lầm, để giải quyết và sửa chữa cho kịp thời… Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại”(19). Người yêu cầu “từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng”(20).
Nghị quyết Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra những mục tiêu, “…phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới”(21); vì vậy mỗi cán bộ, đảng viên dù nhiệm vụ nào cũng phải tận tâm, tận lực, tận hiến, phụng sự tổ quốc; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải đổi mới tư duy; thể hiện tinh thần trách nhiệm; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ; huy sinh lợi ích cá nhân để phục vụ tốt cho nhiệm vụ, cho sự nghiệp của cách mạng. Đồng thời để phát huy năng lực, sở trường của đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tạo môi trường thuận lợi; có chính sách thu hút nhân tài; đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ.
Kinh nghiệm thứ tư: Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái(22).
Người đã chỉ ra, mặc dù mỗi cơ quan, tổ chức luôn nhắc đến “phải nâng cao sáng kiến”(23), tuy nhiên vì cách làm không đúng nên sự đóng góp sáng kiến của cấp dưới và của Nhân dân không có; nguyên nhân “vì: Cách lãnh đạo của ta không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực”(24). “Thành thử cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau. Quần chúng với Đảng rời xa nhau. Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra”(25). Kinh nghiệm của Người chỉ ra: “Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”(26). Để làm được điều đó thì “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau (27). Đồng thời Người cũng phê bình: “Nếu ta thử hỏi: sáng kiến là gì? thì chắc nhiều người trả lời không xuôi”(28). “Như thế mà mong cán bộ và đảng viên có sáng kiến thì sao mà có được!”(29). Vì vậy người yêu cầu: Chúng ta phải nhận rõ: “Bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến”(30).
Có thể khẳng định, sáng kiến là tất cả những gì có ích cho đời sống Nhân dân, cho cơ quan, đơn vị vì mục tiêu phát triển. Nhận thức được vai trò của sáng kiến, vì vậy Đảng ta trong thời gian qua luôn quan tâm thực hành dân chủ đúng nguyên tắc để tạo điều kiện, tiền đề quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên được bày tỏ những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình, đề xuất sáng kiến từ kinh nghiệm thực tiễn gắn liền với phương châm nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin - đây được xác định là cả một nghệ thuật, là cả quá trình dấn thân với cái tâm, lòng nhiệt huyết của cán bộ, đảng viên hiện nay.
Để nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái thực hiện trách nhiệm phụng sự của cán bộ, đảng viên. Đang ta yêu cầu: “Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng và bảo đảm quyền hạn,… gắn với sản phẩm cụ thể, theo vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh; coi trọng uy tín trong Đảng và tín nhiệm trong Nhân dân; theo đúng chủ trương "có vào có ra", "có lên có xuống"(31). Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích và “có cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(32).
Kinh nghiệm thứ năm, Người trả lời cho cán bộ, đảng viên hai câu hỏi “Vì ai mà làm? Đối ai phụ trách?”(33).
Với nhãn quan chính trị của mình, Người phê bình vấn đề về nhận thức của cán bộ, đảng viên phần đông đang có những giới hạn nhất định. Theo Người ““Nếu chúng ta hỏi cán bộ: “Việc đó, làm cho ai? Đối với ai phụ trách?”, chắc số đông cán bộ sẽ trả lời: “Làm cho Chính phủ hoặc Đảng, phụ trách trước cấp trên””(34). Người khẳng định câu trả lời đó chỉ đúng một nửa. Người đặt thêm vấn đề nếu chúng ta lại hỏi: “Chính phủ và Đảng vì ai mà làm việc đó? Và phụ trách với ai?” thì e nhiều cán bộ không trả lời được. Do nhiều cán bộ chưa hiểu, cho nên trong lúc làm việc, thường sai lầm”(35). Đây là những vấn đề nhận thức sai lầm của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Phần đa đều quan điểm mình làm việc cho Đảng, cho Chính phủ chứ không phải “vì dân phục vụ”; không phải là “công bộc của dân” do đó sự nhiệt thành, tinh thần trách nhiệm chưa cao, dẫn đến nhiều căn bệnh phát sinh từ trong lối làm việc của cán bộ, đảng viên, xuất hiện “có thái độ xa quần chúng, thói không phụ trách ..không suy nghĩ chín chắn”(36). Đồng thời có một bộ phận cán bộ ngộ nhận mình là người của Đảng, của hệ thống chính trị nên thường có tư tưởng là “ông quan cách mạng”, ý kiến của bản thân nhưng cho đó như ý kiến của Đảng, của đơn vị, vì vậy yêu cầu cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa để xóa bỏ tư tưởng "đừng thấy đỏ tưởng là chín"(37).
Kinh nghiệm thứ sáu: “Sát quần chúng, hợp quần chúng”(38), theo người để thực hiện tốt kinh nghiệm này, cán bộ, đảng viên cần phải khắc phục hai chứng bệnh: “Bệnh khai hội” và “bênh nể nang”.
Đối với “Bệnh khai hội”, kinh nghiệm từ thực tiễn Người chỉ ra: “Khai hội không có kế hoạch, không sắp sửa kỹ lưỡng, không thiết thực. Khai hội lâu, khai hội nhiều quá. Vì vậy, mà quần chúng sợ khai hội. Mỗi lần họ đi khai hội, chẳng khác gì “đi phu”. Đó cũng vì bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức, …chớ nào phải vì lợi ích của quần chúng mà khai hội!”(39). Vì vậy để chủ trương, chính sách đi vào thực tiễn đời sống của Nhân dân, Người yếu cầu phải “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng. Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng”(40). Có như vậy thì “ý Đảng mới hợp với lòng dân”.
Từ thực tiễn lãnh đạo, Đảng ta cũng đã đặt ra yêu cầu khắc phục “bệnh khai hội”, trong đó “Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản theo hướng đơn giản hóa và rút gọn, tích hợp các quy trình, thủ tục trong ban hành văn bản. Không tổ chức các hội nghị nếu không thật sự cần thiết hoặc nội dung đã có văn bản hướng dẫn chi tiết. Các cấp không tổ chức lại hội nghị đã tổ chức theo hình thức truyền hình trực tiếp, trực tuyến đến cơ sở.(41).
Đối với “Bệnh nể nang”, nguyên nhân có căn bệnh này, theo kinh nghiệm của Người đó là “Vì họ hàng quen biết, bầu bạn, thân thích, anh em, cho nên lúc họ có sai lầm cũng cứ nể nang không thiết thực phê bình, thiết thực sửa đổi, sợ mất lòng”(42). Để khắc phục căn bệnh này, Đảng ta thực hiện với “Thái độ … trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật”(43). Đặc biệt Đảng yêu cầu khắc phục tình trạng: “Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh…”(44).
3. Kết luận
Tác phẩm Sửa đối lối làm việc ra đời cách đây gần 80 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Nội dung “Mấy điều kinh nghiệm” được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thời kỳ cách mạng khó khăn, gian khổ nhưng vẫn đang trở thành kim chỉ nam để Đảng ta vận dụng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, cán bộ đảng viên; để mỗi cán bộ đảng viên “Suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân” (45). Để thực hiện nhiệm vụ “mang tầm chiến lược” với sứ mệnh “Phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của Nhân dân được nâng cao và hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(46)./.
ThS. Trần Thị Thùy
Giảng viên khoa Xây dựng Đảng
Tài liệu nghiên cứu
(1),(6),(7); (5) Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, Nxb chính trị quốc gia, HN 2011, tr.280. tr.269.
(2),(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, tr.123.
(4) Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, Nxb chính trị quốc gia, HN 2011, tr.248.
(8),(10); (21),(45) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 2, Nxb chính trị quốc gia sự thật, tr.237-238; tr.262.
(9)https://thanhnien.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-khong-noi-khong-khong-noi-kho.
(11),(12),(13),(14); (17),(18),(19),(20) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 5, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.281- 282; tr.282- 283.
(15), (44) Ban Chấp hành Trung ương Số: 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016, Nghị quyết Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ
(16) Ban Chấp hành Trung ương Số: 28-NQ/TW, ngày 17/11/2022, Nghị quyết về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới
(22),(23),(24),(25),(26),(27),(28),(29),(30);(33),(34),(35),(36);(38),(39), (40), (43) Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, Nxb chính trị quốc gia, HN, 2011, tr.283 -tr.285; tr.285-286; tr.287-288.
(31),(32) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, tr.34 -35.
(37)https://laodong.vn/thoi-su/cong-tac-can-bo-dung-thay-do-tuong-la-chin-co-khi-xanh-vo-do-long-1251735.ldo
(41) Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
(43) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại Hội Đảng thời kỳ đổi mới, phần I, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, tr.15.
(46) Bộ chính trị: Quy định số 144-QĐ/TW (ngày 9/5/2024) Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới.
ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC - MỘT NỘI DUNG LỚN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Tóm tắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc và của nhân loại - đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt; trong đó đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những tư tưởng lớn, xuyên suốt và nhất quán trong hệ thống tư tưởng của Người. Trong bối cảnh ngày nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở quan trọng để phát huy nguồn nội lực vững chắc đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới, phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường.
Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết, dân tộc…
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử; đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa toàn nhân loại, đặc biệt là sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với tình hình thực tiễn cách mạng Việt Nam qua từng giai đoạn. Tư tưởng đó của Người được thể hiện ở những quan điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và khẳng định tầm vóc to lớn, quan trọng của vấn đề đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược; đồng thời, là một nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cách mạng muốn thành công phải có lực lượng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng xã hội mới. Người đã nhiều lần nhấn mạnh: "Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành thắng lợi" [1]. "Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công” [2]. Qua thực tiễn các phong trào đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng, sở dĩ các cuộc đấu tranh bị thất bại là do không có sự đoàn kết, tập hợp các lực lượng, bộ phận trong một tổ chức tập trung thống nhất, đòi quyền lợi trước mắt và lâu dài cho từng giai cấp, giai tầng của xã hội. Do đó, yêu cầu đặt ra là luôn luôn giữ gìn khối đại đoàn kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[3]. Khẩu hiệu đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam vận dụng trong mọi giai đoạn lịch sử.
Thứ hai, đại đoàn kết là mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của Đảng cách mạng
Trong quan điểm của Bác, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng yêu nước, cách mạng mà cao hơn đó là mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng cách mạng. Người khẳng định: “mục đích của Đảng Lao động Việt Nam đại thể gồm trong 8 chữ là ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”[4]. Đảng là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam nên tất yếu đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và nhiệm vụ này phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của Đảng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Do đó, Đảng phải có nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, hình thành nên khối đại đoàn kết dân tộc to lớn, mạnh mẽ; biến sức mạnh của quần chúng thành sức mạnh hiện thực trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, về lực lượng, hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định tầm quan trọng chiến lược của đoàn kết mà còn thể hiện ở tính sáng tạo trong việc xác định lực lượng, hình thức và phương pháp đoàn kết. Người nhấn mạnh đến việc “đoàn kết đại đa số nhân dân”; xác định lực lượng cốt lõi là công - nông - trí thức và mở rộng phạm vi đoàn kết tới mọi tầng lớp, mọi giai cấp, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, đảng phái, miễn là họ cùng mục tiêu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây” [5].
Theo Người, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chỉ được phát huy khi tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cả dân tộc hay toàn dân chỉ có thể tạo nên một sức mạnh to lớn, trở thành lực lượng vô địch khi được tổ chức thành một khối chặt chẽ, được giác ngộ sâu sắc về mục tiêu lý tưởng, được định hướng bởi một đường lối chính trị đúng đắn, nếu không thì dù quần chúng nhân dân có số đông tới hàng triệu người cũng chỉ là một số đông không có sức mạnh, rời rạc.
Thứ tư, đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản
Hồ Chí Minh đã nêu lên một số nguyên tắc cơ bản để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, đó là: phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã hội; phải tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân; đoàn kết tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, đoàn kết lâu dài, chặt chẽ và phải chân thành, thẳng thắn, thân ái; đoàn kết phải gắn với tự phê bình và phê bình. Chính nhờ những nguyên tắc này mà tư tưởng của Người luôn có giá trị trong hôm nay và mãi về sau.
Thứ năm, về phương pháp đại đoàn kết toàn dân tộc
Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Người cho rằng, trước hết, cần tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục nhân dân tự nguyện, tự giác tham gia vào một tổ chức đoàn thể trong Mặt trận. Trong tuyên truyền, vận động, giáo dục phải phản ánh đúng nguyện vọng sâu xa và những quyền lợi cơ bản, chung nhất của toàn thể dân tộc; phản ánh nguyện vọng, quyền lợi riêng phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp, từng cộng đồng xã hội cụ thể. Phải nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, giản dị nhưng vẫn rất sâu sắc, sử dụng biện pháp nêu gương, kết hợp giữa lời nói và việc làm. Hai là, phải chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng phải đề ra được đường lối đoàn kết đúng đắn; phải đoàn kết, thống nhất cả trong tư tưởng lẫn hành động, từ trên xuống dưới; phải là một tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, tự giác, thực hiện tốt các nguyên tắc sinh hoạt Đảng kiểu mới. Về Nhà nước, phải xây dựng Nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng là sợi dây gắn kết Đảng với nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc cùng với khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây dựng là một di sản vô cùng quý báu. Thấm nhuần tư tưởng của Người, trong thời gian qua, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để xây dựng và thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đoàn kết chặt chẽ nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược và giành nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước những vận hội mới, đồng thời cũng có những thách thức mới. Những vận hội và thách thức đó tác động hàng ngày, hàng giờ đến khối đại đoàn kết dân tộc. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, toàn Đảng, toàn dân, trong đó có Mặt trận Tổ quốc các cấp cần phải luôn luôn quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết để huy động tối đa sức mạnh toàn dân tộc, góp phần đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”./.
Đặng Liễu
Giảng viên Khoa XDĐ
Tài liệu tham khảo:
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, t.9, tr.177
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, t.14, tr.186
[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2011, t.9, tr.244.
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2011, , t.7, tr.49.
[5] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2011, t.9, tr.244





