Thứ sáu, 15/05/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026 - 2031

Super User

Super User

Tóm tắt: Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu, chiến lược cốt lõi và động lực chính của cách mạng Việt Nam, nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, đồng bào ở trong và ngoài nước thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng phấn đấu cho mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại đoàn kết toàn dân tộc đang đứng trước thời cơ, vận hội mới nhưng cũng đối diện với nhiều khó khăn, thách thức bởi sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Phát huy khối đại đoàn kết dân tộc có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Từ khoá: đại đoàn kết, đoàn kết toàn dân tộc, nền tảng tư tưởng

1.Vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu, là nét đẹp văn hóa của dân tộc ta, là ngọn nguồn để dân tộc ta chiến thắng thiên nhiên, ngoại xâm, nghèo đói. Xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc ta đã cho chúng ta thấy những bài học quý giá về đại đoàn kết dân tộc. Dưới thời đại Hồ Chí Minh, bằng đường lối cách mạng đúng đắn, phát huy đúng vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc mà Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và tiến hành công cuộc đổi mới thắng lợi, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2.Âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ đại đoàn kết dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay

Các thế lực thù địch vẫn âm mưu xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta đang xây dựng, vì thế âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta vẫn là một trong những trọng tâm mà chúng nhắm đến.

Trước hết là chia rẽ đoàn kết trong Đảng. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những phần tử bất mãn, cơ hội, suy thoái về tư tưởng chính trị trong nội bộ Đảng ta hoặc những cán bộ, đảng viên suy thoái, vi phạm pháp luật đã bị xử lý, kỷ luật để chống phá sự nghiệp cách mạng cũng như chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là một âm mưu rất nham hiểm vì số cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” này không ít người đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, có uy tín xã hội lớn, có khả năng ảnh hưởng đến dư luận xã hội. Bằng những chiêu bài như đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch đã lôi kéo, kích động, tiếp sức cho các phần tử này viết bài, tham gia các diễn đàn, hội thảo, đưa ra những thông tin bình luận thất thiệt nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, bịa đặt, vu cáo về tình hình chính trị trong Đảng và trong nội bộ nước ta. (Vd: đưa tin thất thiệt về công tác nhân sự của trung ương, việc kỉ luật cán bộ vi phạm, tình hình biển đảo, một số dự án đầu tư của nước ngoài…). Từ những âm mưu, thủ đoạn chống phá đoàn kết trong Đảng ta chúng gây hoang mang dự luận, thông tin trái chiều làm không ít cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta ngộ nhận, hoài nghi, lầm tưởng, thậm chí tin theo những thông tin đó. Tất cả đều nhằm chia rẽ nội bộ ta ngay từ trong Đảng, chia rẽ Đảng với Nhân dân và Nhân dân với Đảng.

Thứ hai là chia rẽ đoàn kết dân tộc. Các thế lực thù địch đều nhận thức được đoàn kết dân tộc là cội nguồn và là sức mạnh để dân tộc ta, Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng giành thắng lợi mọi mặt vì vậy chúng âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc ta. Trọng điểm của sự chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là ở các địa bàn như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, phía Tây duyên hải miền Trung, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo... Nhằm kích động, chia rẽ đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, chống đổi Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc, rằng “Tây Nguyên là đất của người Thượng”, “Đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”, thành lập Quỹ người Thượng, còn gọi là Sáng Hội Người Thượng hoặc Tổ chức Người Thượng (Montagnard Foundation Inc - MFI), đặc biệt là tổ chức “người Thượng vì công lý” (MSFJ). Đây là tổ chức do Y Quynh Bdap cầm đầu, đã gây ra vụ khủng bố đặc biệt nghiêm trọng ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã tô vẽ đối tượng này trở thành “người hùng”, là “ngọn cờ” đấu tranh của các dân tộc Tây Nguyên đòi quyền “tự trị”, “ly khai”. Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”, “Những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”,… qua đó, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn...Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơ-me Cam-pu-chia Krôm độc lập”; “Hội những người Khmer”; “Quốc hội Khmer Krôm hải ngoại”; “Hội bảo vệ nhân quyền”,… và đặc biệt là tổ chức “Liên đoàn Khmers Kampuchea Krom” (KKK), lợi dụng những vụ việc tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ. Đối tượng chúng quan tâm là trí thức, sư sãi, học sinh, sinh viên, cán bộ thoái hóa biến chất để tác động đến các đối tượng khác; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn cho sư sãi và đồng bào Khơ-me Nam Bộ trên đất Cam-pu-chia; vu cáo, xuyên tạc ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, cấu kết với các phần tử của các đảng đối lập ở Cam-pu-chia tuyên truyền ở hải ngoại về những vấn đề liên quan đến lịch sử vùng đất Nam Bộ, đưa ra yêu sách phi lý đòi đất đai, đòi tự trị, đòi gia nhập về Cam-pu-chia. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơ-me Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơ-me Cam-pu-chia Krôm tự trị”... Với vùng có đông đồng bào tôn giáo, chúng kích động, nói xấu Đảng, Nhà nước ta vi phạm “tự do tôn giáo”, chia rẽ đoàn kết lương giáo, tập hợp lực lượng để “đòi đất”, xây dựng cơ sở thờ tự và tổ chức sinh hoạt tôn giáo trái phép rồi vu cáo chính quyền “đàn áp tôn giáo”. Lợi dụng đức tin của bà con giáo dân, họ lồng ghép rao giảng đạo lý với vấn đề chính trị diễn ra trong đời sống xã hội, như: tình hình Biển Đông, những tranh chấp, đền bù, giải tỏa đất đai,… nhằm làm lu mờ đường hướng sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính chúa, yêu nước”, tạo ra “bức tranh tối” trong xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng để dễ bề kích động, chia rẽ, chống phá...Một số diễn đàn, như: Boxit, Viettan, RFI, RFA, VOA,…được sự hỗ trợ của Mỹ và một số nước phương Tây thường xuyên đăng tải các bài viết xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Họ lợi dụng triệt để các phương tiện truyền thông, phát tán tài liệu phản động, các ấn phẩm đồi trụy, khai thác tối đa ưu thế của mạng xã hội, đưa thông tin “nửa kín nửa hở” để tung tin thất thiệt, sai lệch về đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Từ luận điệu này, các thế lực thù địch tiếp tục khoét sâu tâm lý ly khai, âm mưu phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết vùng miền, đoàn kết lương giáo, đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, đoàn kết quân - dân, đoàn kết Nhân dân với Đảng...

Thứ ba là, chia rẽ nhằm cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế đã chứng minh đường lối đổi mới và đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối đó đã nâng tầm của Việt Nam trên trường quốc tế. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Việt Nam đã 2 lần được bầu là uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009, nhiệm kỳ 2020-2021 được bầu với số phiếu 192/193), là thành viên tích cực, trách nhiệm và có uy tín của các tổ chức quốc tế, có tiếng nói ở các diễn đàn đa phương, song phương, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đây thực sự là cái gai trong mắt của các thế lực thù địch. Bằng những hành động nguỵ tạo, xuyên tạc, sử dụng các phần tử bất mãn, cơ hội, vi phạm pháp luật đã từng bị kết án tù đang cư trú ở nước ngoài (như Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa, Đặng Thị Huệ,…dựng lên cái gọi là “nạn nhân chính trị”, “tị nạn chính trị”, “tù nhân lương tâm”, các thế lực thù địch luôn tạo ra những bức tranh xám xịt, đen tối về tình hình Việt Nam nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các lực lượng chống đối, thù địch với Việt Nam, kêu gọi cộng đồng quốc tế gây sức ép lên Việt Nam nhằm mục đích thay đổi từng bước dẫn đến chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam. Một thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm nữa là một số phần tử người Việt ở hải ngoại đã được phương Tây tiếp sức dựng lên những tổ chức phản động, khủng bố để chống phá đất nước, điển hình như: “Việt Tân”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”…và gần đây là “Ủy ban vận động lâm thời Hội đồng quốc dân Việt Nam” do Nguyễn Hữu Chánh thành lập từ tháng 3/2025. Có thể dễ dàng nhận ra những hành động của các thế lực thù địch được thực hiện thông qua các báo cáo xuyên tạc về nhân quyền của Tổ chức theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) hàng năm mà Mỹ công bố; các báo cáo về tự do báo chí do Tổ chức Phóng viên không biên giới (Reporters sans frontières-RSF) công bố; báo cáo về tự do tôn giáo của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) công bố…Tất các các báo cáo thường niên này đều có điểm chung là phản ánh lệch lạc, méo mó, phiến diện tình hình ở Việt Nam hòng lái dư luận quốc tế có cái nhìn khác về tình hình thực tại ở Việt Nam. Đây là những âm mưu rất thâm độc nhằm làm giảm uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Các công cụ, phương tiện tiến hành hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam rất đa dạng. Nhiều hội nhóm được lập ra cả ở trong và ngoài nước, như: Việt Tân, Cao trào Nhân bản, BP SOS, Hội anh em dân chủ, Hội Cựu tù nhân lương tâm, No-U, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, Hội Phụ nữ nhân quyền, v.v. Ngoài ra còn có một số tổ chức chính trị khác công khai chống phá Đảng, Nhà nước ta như: Liên minh Bài trừ nô lệ mới ở châu Á - Mỹ (CAMSA); Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam (Vacsava, Ba Lan); Văn phòng Trợ giúp công nhân Việt Nam (Tanagatina) ở Penang-Malaysia; Đảng Cấp tiến Xuyên quốc gia (Transnational Radical Party- TRP); Tổ chức Liên minh Việt Nam Tự do (FVA); Tổ chức Bạch Đằng Giang; Tổ chức Việt Nam Tự do; Đảng Vì Dân; Đảng Dân Tộc; Hội đồng công luật công án Bia Sơn (tiền thân là tổ chức Ân đàn đại đạo)…Dù tên gọi khác nhau, song thủ đoạn vẫn không thay đổi, sử dụng những kẻ bất mãn, suy thoái giật dây, điều hành, cùng mục đích chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hoạt động chủ yếu được thực hiện qua các diễn đàn trên in-tơ-nét, website, blog, mạng xã hội như facebook, zalo,… để đăng tải các bài viết, hình ảnh, chế phim xuyên tạc với cường độ cao (sử dụng trí tuệ nhân tạo AI), tính chất “đánh lận con đen” nhằm gây chia rẽ nội bộ, sự đồng thuận xã hội và tình cảm giữa các dân tộc ở trong nước, gây nhiểu nhầm trong cộng đồng quốc tế nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam, kêu gọi các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế tiếp tục gây sức ép với Việt Nam, đòi hỏi phải thực hiện “tự do, dân chủ”, “đa nguyên, đa đảng”.

3.Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Nhân dân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công-nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng. V.Lê-nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh giai cấp công nhân với nông dân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Rằng nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.

Kế thừa và vận dụng linh hoạt vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng hết sức sáng tạo để phát huy khối đại đoàn kết dân tộc. Trong hệ thống tư tưởng của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1), đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”(2). Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”(3). Đó là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.

4.Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết dân tộc

Kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam qua mỗi một giai đoạn, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân thực hiện thành công từng nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, đó là giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội-thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

Đại hội XII của Đảng xác định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (4) . Và nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới”(5).

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước theo tinh thần Nghị quyết mà Đại hội XIII của Đảng đang đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta những nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang. Đảng ta chỉ rõ: “Trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đoàn kết một lòng; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy; có quyết tâm chính trị cao; dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình; chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống; nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được; đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”(6). Trong đó, “Các thế lực thù địch cấu kết với các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước chưa từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là phá hoại nền tảng chính trị, tư tưởng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”(7).

Ngày nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; giữ vững môi trường hoà bình, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, nhất là tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội, tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tuy đã được kiểm soát nhưng vẫn còn tồn tại, gây bức xúc trong Nhân dân, vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo còn phức tạp, khó lường... làm ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng và đời sống các tầng lớp Nhân dân.

5.Nguyên tắc khi thực hiện đại đoàn kết dân tộc

Đoàn kết là sức mạnh nội sinh của Đảng ta, Nhân dân ta và dân tộc ta. Để đoàn kết được phát huy một cách cao nhất, tạo ra sức mạnh tổng hợp lớn nhất, chúng ta cần quán triệt những nguyên tắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh khi thực hiện đại đoàn kết, đó là: Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người; tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của Nhân dân; đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, bền vững; đại đoàn kết chân thành, thân ái, thẳng thắn theo nguyên tắc tự phê bình, phê bình vì sự thống nhất bền vững; đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.

6.Nội dung và giải pháp thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(8). Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân”(9). Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”(10), đồng thời “Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(11). Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của Nhân dân, “không để ai bị bỏ lại phía sau”, tập trung mọi người lực, cải cách mạnh mẽ thể chế phát triển, tháo gỡ dứt điểm những “điểm nghẽn”, “nút thắt” để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt 2 con số trong giai đoạn tới, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh con người, để Nhân dân được thụ hưởng ngày càng đầy đủ hơn những thành quả của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, qua đó tăng cường củng cố khối đoàn kết Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Ba là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị, thực hiện tự phê bình và phê bình thực chất, trách nhiệm. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Xử lý nghiêm đối với những hành vi tham ô, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm không những làm Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh mà còn trực tiếp tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động Nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Năm là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng - mặt trận nóng bỏng nhất hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại trên 3 trụ cột là “đối ngoại Đảng”-“ngoại giao Nhà nước”-“đối ngoại Nhân dân” để cộng đồng quốc tế có được cái nhìn đầy đủ, thực chất về Việt Nam trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Qua đó góp phần đập tan những luận điệu xuyên tạc, chia rẽ của các thế lực thù địch, những thông sai trái, bịa đặt, vu cáo của các tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam.

Sáu là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

NCS.Nguyễn Văn Hợi

Phó Hiệu trưởng


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 453.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr. 244.

(3)  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 13, tr. 119.

(4), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb CTQG, H.2016, tr.158; tr.95-96.

(6), (9), (10), (11) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tập 1, tr.109; tr.165-166; tr.119; tr.170-171.

(7) Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2019, tr.20.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr.20.

Tóm tắt:

Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV, lần đầu tiên chính thức đưa đối ngoại, hội nhập quốc tế cùng quốc phòng, an ninh trở thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” trong quan điểm chỉ đạo - đây là phát triển mới về tư duy chiến lược, sự chủ động của Đảng trong bối cảnh địa chính trị biến động phức tạp. Đồng thời, khẳng định đối ngoại, hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ chủ yếu, có tầm quan trọng hàng đầu, ở một vị trí trung tâm, với trách nhiệm và vai trò cao hơn đối với an ninh và phát triển của đất nước. Tư duy này là sự phản ánh sinh động, sự vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

Từ khoá: đối ngoại, hội nhập quốc tế, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội XIV

1. Nền tảng “trọng yếu, thường xuyên” trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống các quan điểm về đường lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế và quan hệ quốc tế, thể hiện trên các vấn đề lớn như độc lập, tự chủ; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; ngoại giao tâm công; ngoại giao hòa hiếu với các dân tộc khác; ngoại giao dĩ bất biến, ứng vạn biến; ngoại giao nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước… trên nguyên tắc nhất quán là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Qua đó, trong mọi chặng đường cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đưa hoạt động ngoại giao vào “tổng lộ trình” đấu tranh cách mạng, xác định là lĩnh vực “trọng yếu, thường xuyên” của cách mạng Việt Nam.

Một là, ngoại giao là vấn đề cần yếu

Ngoại giao là vấn đề cần yếu, đóng vai trò chiến lược, quan trọng, là “mặt trận” song song với quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Người nói: “Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh”(1).

Sau cách mạng Tháng Tám, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã xác định rằng: “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”(2). Nêu rõ mối quan hệ giữa ngoại giao với quân sự và điều cốt yếu phải xây dựng thực lực, “Muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực” (3), bởi “mình phải có sức mạnh thì ngoại giao sẽ thắng” (4), từ đó đã kiên quyết đấu tranh giữ vững chủ quyền ngoại giao và coi đó là biểu hiện quan trọng của nền độc lập.

Hai là, đoàn kết, hợp tác quốc tế gắn liền với độc lập, tự chủ, đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Để tăng cường đoàn kết, hợp tác quốc tế, trước hết phải phát huy độc lập, tự chủ, từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tích cực, chủ động đoàn kết, hợp tác quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ, tôn trọng lẫn nhau với phương châm, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (5) nhưng trên cơ sở “trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam” (6).

Trong quan hệ quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào” (7). Có thể thấy, “độc lập, tự chủ” luôn giữ vai trò quyết định, là nền tảng vững chắc để thúc đẩy hợp tác quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế; đồng thời, đoàn kết, hợp tác quốc tế chính là tạo môi trường quốc tế thuận lợi, sức mạnh tổng hợp để giữ vững độc lập, tự chủ, nhằm đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết.

Ba là, kiên trì nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”

Trong đó, “bất biến” là độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; “vạn biến” là sự linh hoạt, khôn khéo trong sách lược để thích ứng với tình hình thế giới - đó là nền ngoại giao kiên trì trong nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo trong sách lược.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ, “Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt” (8). Rõ ràng, vấn đề bất biến, có tính nguyên tắc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Song để đạt được mục tiêu đó, phương thức thực hiện phải thiên biến vạn hóa theo từng vấn đề, thời điểm và bối cảnh cụ thể.

2. Khẳng định “trọng yếu, thường xuyên” của đối ngoại, hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới

Cơ sở xác định đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”

Thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn liền với các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đều có sự đóng góp to lớn của đối ngoại, hội nhập quốc tế.

Cùng với những vấn đề trong nước, những biến đổi nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế giới và khu vực thời gian gần đây cũng như những cơ hội và thách thức đặt ra cho Việt Nam càng đòi hỏi phải coi trọng, đẩy mạnh đối ngoại,  hội nhập quốc tế. Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV, Đảng ta nhận định, “Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh…Các thách thức toàn cầu tiếp tục tác động bất lợi đến an ninh và phát triển của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam…Công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích quốc gia ở Biển Đông, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng, an ninh nguồn nước còn nhiều thách thức” (9). Mặt khác, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi quốc gia, dân tộc, mọi lĩnh vực đặt ra yêu cầu đẩy mạnh hợp tác, giao lưu giữa các quốc gia. Rõ ràng, thế giới càng biến động, việc củng cố hòa bình, ổn định cho đất nước càng có vai trò trọng yếu, then chốt.

Đặc biệt, tầm nhìn của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, cùng với những bài học từ 40 năm đổi mới đòi hỏi chúng ta phải nâng cao sức mạnh của dân tộc, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành liên quan trong xử lý các vấn đề đối ngoại, kể cả an ninh quốc phòng, an ninh chính trị và an ninh kinh tế, để đảm bảo sự đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với bối cảnh hiện nay.

Về vấn đề cốt lõi đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”

Trước yêu cầu mới của tình hình trong nước và quốc tế, Việt Nam tiếp tục xây dựng chiến lược ngoại giao toàn diện, hiện đại, phục vụ hiệu quả hơn nữa cho các mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước… Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi”(10)  nhằm “Nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại” (11).

Thực tế, đối ngoại là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự thích ứng liên tục với những biến đổi của thời cuộc, bởi thế đối ngoại, hội nhập quốc tế phải toàn diện, trên tất cả lĩnh vực, nhằm tạo cơ sở để tạo lập các phương thức ngoại giao trên các lĩnh vực, như ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ... để thu hút vốn, công nghệ, nguồn lực quốc tế, gia tăng sức mạnh mềm quốc gia, trên tinh thần, bản sắc ngoại giao “cây tre Việt Nam” như cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, “Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”” (12).

Vai trò đối ngoại, hội nhập quốc tế tiếp tục được xác định ở vị trí “tiên phong” trong tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, đồng thời là sự nghiệp toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, các ngành, các cấp, các địa phương chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc…”(13).

Nhiệm vụ đối ngoại, hội nhập quốc tế phải gắn chặt với quốc phòng, an ninh nhằm “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam; thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển bằng các biện pháp hoà bình...” (14).

Khẳng định vai trò quan trọng của Bộ Ngoại giao, các cơ quan làm công tác đối ngoại và hệ thống ngoại vụ cấp tỉnh nhằm “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp với đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao. Bảo đảm nguồn lực cho đối ngoại tương xứng với thế và lực mới của đất nước để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” (15). Qua đó, “Phát huy hiệu quả các phương thức ngoại giao đa dạng, đặc biệt là ngoại giao cấp cao, ngoại giao chuyên ngành” (16).

Nguyên tắc đối ngoại, hội nhập quốc tế là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự thể chế hóa phối hợp chặt chẽ giữa 3 trụ cột quốc phòng - an ninh - đối ngoại; giữa đối ngoại Đảng - ngoại giao Nhà nước - đối ngoại Nhân dân; giữa Trung ương với địa phương, giữa các ban, bộ, ngành. Trong ngoại giao quốc phòng, Việt Nam xác lập và duy trì nguyên tắc “bốn không”, đó là: Không tham gia liên minh quân sự; Không liên kết với nước này chống nước khác; Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống nước khác; Không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Từ những nỗ lực trong thiết lập, xây dựng, duy trì, phát triển các mối quan hệ ngoại giao, tính đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 trong 200 quốc gia trên toàn thế giới, là một trong số ít quốc gia trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với toàn bộ các nước thành viên Liên Hợp Quốc. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác, Việt Nam đã tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 14 quốc gia, 1 tổ chức là Liên minh châu Âu, đối tác chiến lược với 14 quốc gia và đối tác toàn diện với 13 quốc gia. Năm 2025, ngoại giao kinh tế được triển khai chủ động, thực chất, trực tiếp phục vụ phát triển với gần 350 thỏa thuận và cam kết hợp tác, đóng góp vào quá trình phát triển đất nước…

Khẳng định, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hội nhập quốc tế là hai lĩnh vực có vai trò khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc bổ sung, nâng tầm đối ngoại, hội nhập quốc tế trở thành “trọng yếu, thường xuyên” không chỉ thay đổi tư duy mà là đòn bẩy chiến lược, đưa đối ngoại, hội nhập quốc tế trở thành công cụ cốt lõi của an ninh quốc gia và phát triển bền vững. Sự đổi mới này khẳng định Việt Nam quyết tâm chủ động, linh hoạt và toàn diện trong vận dụng sức mạnh mềm, nâng cao vị thế trên trường quốc tế trong kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, hùng cường của dân tộc.

ThS. Nguyễn Thị Cẩm Trang

GV khoa Xây dựng Đảng


Tài liệu trích dẫn

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG H. 2011, t.3, tr.518.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8, tr.290

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8, tr.27

(4) Hồ Chủ tịch nói chuyện với hội nghị ngoại giao năm 1964 và 1966, tài liệu lưu trữ tại Bộ Ngoại giao

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.256

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 6, tr. 311

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr.162

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8, tr.555.

(10)  Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, H. 2026.

(12) Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2023, tr. 181.

(9) (11) (13)  (14)  (15) (16), Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001720981
Đang truy cập : 8