Thứ sáu, 15/05/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026 - 2031

Super User

Super User

Tóm tắt: Phát huy khối đại đoàn kết toàn dân và tinh thần đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng thúc đẩy Lâm Đồng phát triển; khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy tăng trưởng gắn với bảo đảm an sinh xã hội; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh… Đây chính là nền tảng để Lâm Đồng phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Lâm Đồng, đoàn kết, đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh, bền vững

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt, đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình xây dựng và phát triển của Đảng bộ, chính quyền, và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Tỉnh Lâm Đồng mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh: Lâm Đồng, Bình Thuận và Đắk Nông, mở ra không gian phát triển rộng lớn, hội tụ nhiều tiềm năng về tài nguyên, con người, văn hóa và vị thế chiến lược. Đây là dấu mốc có ý nghĩa lịch sử, đặt ra yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh đó, việc phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là yêu cầu mang tính cấp bách để xây dựng Lâm Đồng trở thành một trong những cực tăng trưởng năng động của khu vực và cả nước.

Đoàn kết là giá trị cốt lõi, xuyên suốt lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng thời là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh nội sinh của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng qua các thời kỳ. Trong nhiệm kỳ 2020-2025, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu, biến động kinh tế toàn cầu, song với tinh thần phát huy khối đại đoàn kết toàn dân và tinh thần đổi mới, sáng tạo, toàn Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân trong tỉnh đã nỗ lực vượt qua khó khăn, đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện về các chỉ tiêu theo Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025; nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đạt và vượt kế hoạch, cụ thể: Tỉnh Lâm Đồng có 11/17 chỉ tiêu đạt kế hoạch; tỉnh Bình Thuận có 17/22 chỉ tiêu vượt và đạt so kế hoạch; tỉnh Đắk Nông có 08/11 chỉ tiêu vượt và đạt so với kế hoạch. Kinh tế tiếp tục phát triển; quy mô, chất lượng tăng trưởng được nâng lên theo hướng bền vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP đạt khá[1]. Năng suất lao động tăng trưởng khá[2]; GRDP bình quân đầu người đến năm 2025 tăng nhanh so với năm 2020[3]; cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng hiện đại… Sản xuất nông nghiệp tiếp tục thích ứng với thị trường; tăng cường liên kết, ứng dụng công nghệ cao, tăng năng suất các sản phẩm lợi thế của địa phương. Thương hiệu nông, thủy, hải sản của tỉnh dần khẳng định giá trị tại các thị trường trong và ngoài nước. Thương mại, dịch vụ tăng trưởng khá sau dại dịch Covid-19; du lịch tiếp tục được khẳng định là ngành kinh tế động lực, mũi nhọn; chuyển đổi số trên lĩnh vực thương mại được ứng dụng rộng rãi đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Lĩnh vực giáo dục và đào tạo phát triển cả về quy mô, chất lượng, đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của toàn xã hội. Việc phát triển nguồn nhân lực luôn được tỉnh quan tâm chỉ đạo. Hệ thống y tế được sắp xếp, tinh gọn, phát triển đồng bộ; được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị; đội ngũ y, bác sĩ và cán bộ ngành y tăng cả về số lượng và chất lượng. Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc có chuyển biến tích cực; ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, chuyển đổi số được quan tâm, tập trung thực hiện… Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên. Kết quả xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt, tính đến ngày 30/6/2025, toàn tỉnh có 230/259 xã nông thôn mới (đạt 88,8%)[4]

Bên cạnh đó, việc đổi mới, sáng tạo theo tinh thần các Nghị quyết mang tính chiến lược, đột phá của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 về Hội nhập quốc tế trong tỉnh hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới… được tỉnh triển khai kịp thời. Đổi mới sáng tạo còn thể hiện ở việc tỉnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền số, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung…

Kết quả nổi bật nhất vừa qua là công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy trong hệ thống chính trị của tỉnh đã hoàn thành. Việc hợp nhất ba tỉnh đã đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị. Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính, triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp được thực hiện quyết liệt, đúng chủ trương, định hướng của Trung ương đã tạo được sự đồng thuận cao trong Nhân dân toàn tỉnh. Tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị của tỉnh được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn, gắn với Đề án vị trí việc làm và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đến nay, 124 xã, phường, đặc khu của tỉnh Lâm Đồng mới đã đi vào hoạt động ổn định, nền nếp, bước đầu phát huy hiệu quả…  Đây là những kết quả có ý nghĩa đột phá, tạo môi trường thuận lợi để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của Lâm Đồng trong không gian phát triển mới.

Thời gian tới, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, với xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I tiếp tục xác định: Xây dựng tư duy và tầm nhìn chiến lược, dài hạn, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, khơi dậy mạnh mẽ tỉnh thần yêu nước, khát vọng phát triển để tổ chức thực hiện bài bản, thực chất, có hiệu quả các Nghị quyết mang tính chiến lược, đột phá của Bộ Chính trị, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương trong giai đoạn mới, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, đưa Lâm Đồng phát triển nhanh, toàn diện, bền vững, vươn lên cùng đất nước[5]; đồng thời, xác định mục tiêu phát triển trong nhiệm kỳ 2025 - 2030 là xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; lãnh đạo phát triển toàn diện, lấy ổn định làm nền tảng, lấy phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm, lấy hạnh phúc và ấm no của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; đến năm 2030, tỉnh Lâm Đồng trở thành tỉnh phát triển khá, là một trong những cực tăng trưởng năng động của khu vực trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc[6] thì phát huy khối đại đoàn kết toàn dân và tinh thần đổi mới sáng tạo trở thành yêu cầu tất yếu để Lâm Đồng vươn lên, tạo động lực, nền tảng cho nhiệm kỳ phát triển bứt phá.

Cùng với việc thành lập tỉnh Lâm Đồng mới có diện tích 24.233,07 km², lớn nhất cả nước, dân số gần 3,9 triệu người, với vị trí địa - chính trị quan trọng, mở rộng từ cao nguyên đến biển đảo, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, hội tụ tiềm năng, điều kiện về rừng, biển, khí hậu, tài nguyên, khoáng sản, có nền tảng và tiềm lực phát triển cả trên 3 trụ cột kinh tế (nông, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp - xây dựng và thương mại, dịch vụ) đã làm không gian phát triển được mở rộng, gắn kết cao nguyên - trung du - duyên hải, cùng nhiều lợi thế, bản sắc văn hóa đa dạng, tạo ra sự đột phá về vị thế để tỉnh Lâm Đồng phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 thì phát huy khối đại đoàn kết toàn dân và đổi mới sáng tạo là yêu cầu khách quan, đồng thời là lựa chọn chiến lược của tỉnh, tạo nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh để Lâm Đồng vươn lên, đột phá phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng trong giai đoạn phát triển mới. Với quyết tâm chính trị cao, đổi mới tư duy, đột phá phát triển, cùng sự đoàn kết của toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tỉnh chung sức, đồng lòng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, khơi dậy những giá trị truyền thống tốt đẹp; cùng sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân sẽ tạo nên động lực mạnh mẽ, đưa tỉnh Lâm Đồng phát triển nhanh, toàn diện, bền vững, trở thành cực tăng trưởng năng động trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vươn lên cùng đất nước.

ThS Chu Thị Thu Trang

Khoa Xây dựng Đảng


* Tài liệu tham khảo

1. Tỉnh ủy Lâm Đồng, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 (2025), Công ty CP in và PHS Lâm Đồng, Lâm Đồng.

2. Tỉnh ủy Lâm Đồng, Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh ủy (2025), Tài liệu hỏi - đáp về Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, Công ty CP in và PHS Lâm Đồng, Lâm Đồng.

 [1] Tăng trưởng bình quân 5 năm 2021 2025: Lâm Đồng tăng 6,57%, Bình Thuận tăng 6,20%, Đắk Nông tăng 6,86%

[2] Lâm Đồng tăng 6,01%, Bình Thuận tăng 5,95%, Đắk Nông tăng 4,56%

[3] Lâm Đồng đạt 4.429 USD (tăng 1,79 lần); Bình Thuận đạt 4.484 USD (tăng 1,65 lần); Đắk Nông đạt 3.700 USD (tăng 1,96 lần)

[4] Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh Lâm Đồng (2025), Tài liệu hỏi - đáp về Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, Công ty CP in và PHS Lâm Đồng, Lâm Đồng, tr.9.

[5] Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh Lâm Đồng (2025), Tài liệu hỏi - đáp về Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, Công ty CP in và PHS Lâm Đồng, Lâm Đồng, tr.36

[6] Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh Lâm Đồng (2025), Tài liệu hỏi - đáp về Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, Công ty CP in và PHS Lâm Đồng, Lâm Đồng, tr.37.

Tóm tắt: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc(1). Mục tiêu và cũng là đích đến mà Đảng, Nhà nước ta hướng tới không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trách nhiệm của chúng ta trong giai đoạn hiện nay phải cùng nhau “đồng tình, đồng sức, đồng lòng…”(2) để cùng với Đảng, Nhà nước hiện thực hóa những mục tiêu đã đề ra đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Từ khóa: Phát triển; yêu cầu; thực tiễn.

1. Cơ sở hình thành nhận thức từ yêu cầu thực tiễn và quá trình lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Trong lý luận nhận thức của triết học Mác-Lênin luôn khẳng định vai trò tiêu chuẩn chân lý của thực tiễn và thấy được mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn: “Thực tiễn - đó là quá trình biện chứng mà trong đó hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần được hòa quyện làm một, vật chất được phản ánh vào trong tinh thần, còn tinh thần thì được hiện thực hóa trong sự biến đổi của thế giới vật chất. Và lý luận càng thích ứng với thực tiễn bao nhiêu thì hoạt động cải tạo của con người càng có hiệu quả bấy nhiêu”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng nhằm nâng cao năng xuất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân,.., nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng xuất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất,…”(4).

Kể từ khi Đảng ta được thành lập và lãnh đạo cách mạng Việt Nam; công tác phát triển khoa học - công nghệ luôn được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Đặc biệt từ thời kỳ đổi mới đến nay Đảng ta đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Vì vậy Đảng đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo trong từng giai đoạn, cụ thể: Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 20/4/1981, của Bộ Chính trị về “Chính sách khoa học và kỹ thuật”; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991, của Bộ Chính trị về “Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”; Nghị quyết số 02-NQ/HNTW, ngày 24/12/1996, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Định hướng chiến lược phát triển  khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1/11/2012, của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019, của Bộ Chính trị “về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; Hiến pháp năm 2013 khẳng định phát triển khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; có thể khẳng định khoa học - công nghệ luôn giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Gần đây, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57 ra đời như một điểm tựa về định hướng để chúng ta có cách nhìn khách quan, cụ thể và quyết tâm hành động thực sự vì lợi ích quốc gia, dân tộc và vì hạnh phúc của Nhân dân. Với quan điểm chỉ đạo cụ thể, các chỉ tiêu xác định rõ ràng, tầm nhìn chiến lực cùng với nhiệm vụ, giải pháp đã được định hướng, khẳng định sự thay đổi trong nhận thức, tư duy lãnh đạo của Đảng ta: Nhìn thẳng vào thực tiễn; hành động vì thực tiễn.

Trong thời gian qua, mặc dù được xác định là quốc sách hàng đầu, nhưng trên thực tế “tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm; quy mô, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách xa so với nhóm các nước phát triển; nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và Nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ và sâu sắc; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng số còn nhiều hạn chế; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức”(5). Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên có yếu tố khách quan và chủ quan, tuy nhiên xét cho cùng do chúng ta quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt. Có những mục tiêu chúng ta đặt ra vì sự tiến bộ của xã hội những lại chưa bắt đầu từ yêu cầu của thực tiễn.

Vì vậy, Đại Hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạp và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới”(6). Với những quan điểm được Đảng đưa ra trên cơ sở “Phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; phải quyết tâm đổi mới tư duy …phải hành động quyết liệt, đột phá, hiệu quả…”(7) để chúng ta thực sự là một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh - bền vững dựa trên nền tảng làm chủ khoa học, công nghệ, đổi mới sảng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Yêu cầu đặt ra từ  thực tiễn trong phát triển khoa học, công nghệ - đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, xuất phát từ thực yêu cầu tiễn đối với cơ quan lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “…phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Có như vậy nước mới giàu, dân mới mạnh và đời sống của nhân dân mới được cải thiện về mọi mặt”(8). Từ khoa học, kỹ thuật của giai đoạn trước đến khoa học, công nghệ - đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay, xét đến cùng tất cả mục tiêu là để phụ vụ sản xuất, nâng cao năng suất lao động và tạo ra giá trị để định vị thương hiệu quốc gia. Vì vậy, yêu cầu thực tiễn đặt ra trong giai đoạn hiện nay cần khơi thông mọi nguồn lực trong đó “thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn””(9), để “tạo động lực phát triển mới”(10)  trong đời sống của người dân, doanh nghiệp và hoạt động xã hôi, đây là nhu cầu thực tế đang đòi hỏi bức thiết. Việt Nam hiện này, có 100 triệu người, với trên 53 triệu người trong độ tuổi lao động(11). Chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến tích cực, đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47% (12). Mục tiêu đặt ra trong giai đoạn thiện nay “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đạt trên 50%”(13).

Vì vậy, yêu cầu cả hệ thống chính trị vào cuộc để: “Phát triển công dân số, trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để người dân tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số và xã hội số(14). Đặc biệt chúng ta tiến hành“cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”(15), đòi hỏi thực tiễn trong hệ thống chính trị, phải “Đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp, hướng tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cá nhân hoá và dựa trên dữ liệu; tăng cường giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong phục vụ Nhân dân”(16). Đây là những đòi hỏi  tất yếu từ thực tiễn đỏi hỏi hệ thống chính trị “không thể chậm trễ hơn nữa” trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội. Để hoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của đời sống xã hội, cần xuất phát từ yêu cầu của đời sống xã hội, trong đó “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học và kỹ thuật một cách có trọng điểm, có từng bước vững chắc, nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh..”(17). Tăng cường tuyên truyền, gắn người thật việc thật, lợi ích thật để người dân, doanh nghiệp và xã hội để chuyển từ tâm thế “thụ động” sang tư thế “chủ động”; vì vậy “phải thiết thực, phải chính xác, phải làm sao cho quần chúng hiểu được và làm được”(18). Đồng thời xác định lộ trình và thời gian để người dân, doanh nghiệp, nhu cầu xã hội được chuẩn bị về sự hiểu biết pháp luật, lợi ích đồng bộ để  tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với những hiệu quả thiết thực mang tính kết nối vào chuỗi giá trị. Trong giai đoạn hiện nay mỗi một người dân, một doanh nghiệp, một hoạt động xã hội là một “tế bào”, “mắt xích” nhằm xây dựng hệ thống mạng lưới khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đồng bộ. Vì vậy, Đảng ta đã khẳng định: “Muốn đột phá về công nghệ phải bắt đầu từ con người và cơ chế. Không thể chủ quan, duy ý chí. Phải có cơ chế trọng dụng nhân tài; cơ chế đánh giá dựa trên sản phẩm; …cơ chế đặt hàng khoa học gắn với yêu cầu phát triển. Khoa học, công nghệ phải đi vào đời sống, phục vụ người dân, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”(19).

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, không phải là sự gò bó bằng “hành chính hóa” và chỉ bằng hình thức bền ngoài, mà phải cần phân định xuất phát từ nhu cầu đời sống thực tiễn để tạo ra giá trị vững chắc. Trong đó: “Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”(20).

3. Giải pháp để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đi vào thực tiễn đời sống của xã hội

Thứ nhất, Đảng ta đã xác định: “Khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; … khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao”(21). Mục tiêu đưa đất nước Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Sức đóng góp tạo ra năng suất lao động có hàm lượng công nghệ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và bảo vệ môi trường phải đồng bộ từng người dân, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và sự thay đổi của xã hội.

Thứ hai, Chủ động, tích cực tiếp cận nhanh và khai thác có hiệu quả cơ hội và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng, làm chủ về công nghệ, khẳng định chủ quyền ở những lĩnh vực then chốt mà Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế. Để tránh không rơi vào tư duy “rập khuôn”; “sân sau”; “lệ thuộc” của các nước có nền công nghiệp pháp triển. Khắc phục tình trạng "không quản được thì cấm"(22).

Thứ ba, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bên cạnh những giá trị lớn tạo ra “thương hiệu quốc gia”; “định vị sức mạnh mềm của trí tuệ dân tộc”; giá trị hiện hữu để được thế giới ghi nhận; tạo ra cơ sỡ vững chắc để “kết nối một chạm”, thì những giá trị là những giá trị hữu ích hằng ngày, đó là những cải tiến trong lao động, sản xuất, trong cách tiếp cận thông tin, cách mỗi người thụ hưởng những giá trị mà ở đó chính con người là chủ thể để tham gia vào các quá trình và nâng cao giá trị của cuộc sống, “góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7”(23).

4. Kết luận: Sức lao động, khả năng sáng tạo con người là nguồn lực trực tiếp tạo nên sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong giai đoạn hiện nay, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, của mỗi cá nhân, doanh nghiệp đang có những sự thay đổi và đang dần dịch chuyển với một xu thế mới, khí thế mới, tinh thần mới; từ cách thức làm việc tạo ra giá trị vật chất, tinh thần cho đến cách thức thụ hưởng giá trị vật chất, văn hóa tinh thần đều có sự thay đổi cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư của thế giới. Điều kiện để chúng ta tham gia - thụ hưởng - cống hiến sẽ đóng góp vào giá trị chung của cộng đồng, xã hội; mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hùng cường, thịnh vượng trên cơ sở định vị được giá trị của những thành tựu trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trước yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội./.

ThS. Trần Thị Thùy

Giảng viên Khoa xây dựng Đảng


Tài liệu tham khảo

(1),(5),(16),(20),(22),,(23). Ban Chấp hành trung ương Đảng, Bộ Chính trị: Nghị quyết Số: 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

(2). Lịch sử nước ta, Nguyễn Ái Quốc sáng tác tháng 2- 1942.

(3). Nguyễn Thế Nghĩa (Chủ biên): Những nguyên lý triết học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - năm 2014, tr.332.

(4),(8); (17); (18) Hồ Chí Minh toàn tập (2011) Tập 14, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.97; tr.96; tr.97.
 (6),(7); (9); (10); (12); (13); (14); (15); (19); (21). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, tr.31; tr.14; tr.28; tr.47; tr.84; tr.106; tr.60; tr.32; tr.104

(11). Cơ quan thống kê quốc gia, cục thống kê - bộ tài chính: Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2025.

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001720944
Đang truy cập : 9