Super User
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIÊN VĂN HOÁ ĐỌC CHO HỌC VIÊN TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÂM ĐỒNG GÓP PHẦN RÈN LUYỆN TƯ DUY PHẢN BIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Tóm tắt: Trong kỳ họp lần thứ 28 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại Paris (Pháp) từ ngày 25/10/1999 đến ngày 16/11/1999, tổ chức UNESCO đã quyết định chọn ngày 23/4 hàng năm là ngày “Sách và bản quyền thế giới”. Hưởng ứng ngày hội đọc sách và tôn vinh văn hoá đọc, tại Việt Nam đã chọn ngày 21/4 hàng năm là Ngày sách Việt Nam (Theo Quyết định số 284/QĐ-TTg ngày 24/2/2014 của Chính phủ). Theo đó, các tổ chức, cá nhân đã thực hiện nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, các buổi giới thiệu sách. Điều này cho thấy văn hóa đọc cần khẳng định vị thế và tầm ảnh hưởng lớn đến xã hội, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số, sự bùng nổ của Internet, sự lớn mạnh của các mạng xã hội. Việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc cho học viên tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhằm hướng tới hình thành hệ sinh thái học tập suốt đời và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh. Với vai trò quyết định của việc đọc sách như một "vũ khí lý luận" sắc bén, giúp học viên thẩm thấu sâu sắc tư tưởng cách mạng, rèn luyện tư duy phản biện và xây dựng "màng lọc" thông tin trước các luận điệu sai trái, xuyên tạc, nâng cao hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Từ khoá: văn hoá đọc, học viên, thư viện, sai trái
1. Mở đầu
Tại Việt Nam, thuật ngữ “văn hóa đọc” chưa được chuẩn hóa, thống nhất và chưa trở thành mục từ trong Từ điển tiếng Việt. Theo Quyết định số 329/QĐ-TTg ngày 15/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, xác định mục tiêu của việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc là: xây dựng và phát triển thói quen, nhu cầu, kỹ năng và phong trào đọc (xuất bản phẩm in và điện tử) trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên, học sinh, sinh viên và chú trọng tới người dân ở vùng nông thôn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; cải thiện môi trường đọc; góp phần nâng cao dân trí, phát triển tư duy, khả năng sáng tạo, bồi dưỡng nhân cách, tâm hồn, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật, hình thành lối sống lành mạnh trong con người, xã hội Việt Nam, đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập.
Đặc biệt, trong kỷ nguyên số với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo và các nền tảng mạng xã hội, nhân loại đang đứng trước một nghịch lý: chúng ta tiếp nhận thông tin nhiều hơn bao giờ hết nhưng lại có xu hướng "lười" tư duy sâu. Giữa dòng chảy cuồn cuộn của những nội dung ngắn, mang tính giải trí tức thời, giá trị của sách và văn hóa đọc lại một lần nữa khẳng định vị thế là "ngọn hải đăng" dẫn đường cho tri thức và nhân cách. V.I. Lênin từng khẳng định: "Không có sách, không có tri thức; không có tri thức, không có chủ nghĩa cộng sản". Câu nói ấy đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức - những người gánh vác sứ mệnh dẫn dắt sự nghiệp cách mạng.
2. Vai trò và tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển văn hoá đọc cho học viên Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng
Văn hóa đọc không đơn thuần là hành vi tiếp nhận mặt chữ, mà là một quá trình tương tác tư duy, là sự chắt lọc tinh hoa trí tuệ của nhân loại để bồi đắp vào thế giới quan cá nhân. Đối với mỗi con người, đọc sách là cách ngắn nhất để tiếp cận với những tư tưởng lớn, rèn luyện tính kiên nhẫn và khả năng phản biện. Trong thực tiễn cuộc sống, một xã hội có văn hóa đọc phát triển là một xã hội văn minh, nơi con người hành xử dựa trên nền tảng tri thức và sự thấu cảm.
Trước hết, đối với học viên Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, việc đọc sách không chỉ là một sở thích cá nhân mà là công cụ sắc bén để "thấm" và "ngấm" lý luận cách mạng. Nếu chỉ dừng lại ở việc nghe giảng trên lớp, học viên khó lòng nắm bắt được tầng sâu ý nghĩa và linh hồn của các học thuyết. Sách, đặc biệt là các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chính là chìa khóa mở ra cánh cửa tư duy biện chứng. Khi tự mình nghiền ngẫm từng trang sách, học viên có cơ hội đối thoại trực tiếp với các tư tưởng lớn, từ đó chuyển hóa những kiến thức khô khan trong giáo trình thành niềm tin nội tâm vững chắc. Đọc sách giúp người cán bộ hình thành một thế giới quan khoa học, biết dùng phương pháp luận duy vật để soi chiếu, phân tích và giải quyết các vấn đề thực tiễn tại địa phương một cách thấu đáo, tránh rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm hay giáo điều máy móc.
Thứ hai, văn hóa đọc đóng vai trò là "màng lọc" và "lá chắn" hữu hiệu trước các quan điểm sai trái trong thời đại bùng nổ thông tin. Học viên Trường Chính trị - những cán bộ, công chức, viên chức nguồn - luôn là đối tượng trọng điểm mà các thế lực thù địch nhắm tới để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình". Xu thế tất yếu hiện nay là chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có tiếp cận thông tin. Giữa biển thông tin đa chiều, thật giả lẫn lộn trên mạng xã hội và các ấn phẩm, học viên trường chính trị không chỉ là người tiếp cận mà còn là “người tham gia” định hướng dư luận xã hội, vì vậy phát triển “văn hoá đọc” để tiếp cận những nguồn tư liệu, thông tin chính thống, có kiểm chứng chính là điểm tựa tri thức tin cậy để rèn luyện cho học viên tư duy phản biện sắc sảo và khả năng nhận diện bản chất sự việc. Khi có một nền tảng tri thức lý luận vững vàng được bồi đắp qua sách vở, học viên sẽ tự xây dựng được cho mình một "hệ miễn dịch" tinh thần, đủ tỉnh táo để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ ba, đọc sách chính là cầu nối trực tiếp giữa lý luận và thực tiễn quản lý. Học viên tại Trường Chính trị cần nhận thức được rằng, học không phải để làm "túi chứa sách" mà học để làm việc, làm cán bộ. Thực tế cuộc sống luôn vận động không ngừng với những tình huống phức tạp mà giáo trình chưa thể cập nhật kịp. Thông qua việc đọc rộng, hiểu sâu, người cán bộ sẽ mở mang tầm nhìn, phá vỡ tư duy lối mòn và sự trì trệ. Điều này giúp họ linh hoạt hơn trong việc tháo gỡ những "điểm nghẽn" tại cơ quan, đơn vị, từ đó nâng cao hiệu quả công tác và uy tín của người lãnh đạo trước quần chúng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương vĩ đại về tự học - đã từng nói: "Bất kỳ ở đâu, làm việc gì cũng phải học tập. Mà muốn học tập thì phải đọc sách". Việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, do đó, không chỉ là hoạt động phong trào mang tính bề nổi. Đó là giải pháp căn cơ để chuyển hóa quá trình đào tạo thành tự đào tạo, giúp học viên không bị lạc lối trước những luồng thông tin xuyên tạc, đa chiều và "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Một cán bộ có thói quen đọc sách sâu sắc sẽ là một cán bộ có tư duy độc lập, có tầm nhìn chiến lược và luôn tràn đầy hơi thở của thời đại. Trong bối cảnh đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, việc duy trì thói quen đọc sách chính là cách thiết thực nhất để mỗi học viên tự soi, tự sửa, không ngừng hoàn thiện bản thân để xứng đáng là người "đầy tớ" trung thành của Nhân dân.
3. Thực trạng văn hoá đọc của học viện tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng
Văn hóa đọc của học viên tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng hiện nay đang có những bước chuyển mình tích cực. Hiện nay, Thư viện Trường được tiếp tục duy trì ở 03 địa điểm (Trụ sở chính, Cơ sở 1 và Cơ sở 2). Ngoài việc chú trọng đầu tư hệ thống tư liệu với hàng nghìn đầu sách chuyên ngành, tập trung vào giáo trình phục vụ chương trình trung cấp lý luận chính trị, các tác phẩm kinh điển của C.Mác - Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh, các Văn kiện Đảng qua các thời kỳ, các sách chuyên khảo, tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, học tập, Thư viện còn có các báo, tạp chí các chuyên ngành khác nhau. Độc giả có thể đọc tại chỗ hay mượn sách theo nhu cầu mà không mất chi phí nào. Với số lượng đầu sách phong phú; không gian thư viện rộng rãi, thoáng mát; cơ sở vật chất: bàn, ghế, quạt… đảm bảo có thể phục vụ cho nhiều lượt độc giả là cán bộ, giảng viên, nhân viên Nhà trường và học viên các lớp Trung cấp lý luận chính trị hệ tập trung và không tập trung.
Theo quan sát thực tế, một số học viên đến với thư viện mong muốn đọc thêm các giáo trình, các tài liệu tham khảo gắn liền với nhu cầu hoàn thành chương trình đào tạo, đặc biệt cao điểm vào các đợt thi học phần, viết bài thu hoạch thực tế và khoá luận tốt nghiệp. Hiện tại, thư viện tại Trụ sở chính đã kết nối với nguồn tài nguyên số Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với 15.500 tài liệu, cung cấp nội dung của luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học và nội dung toàn văn hơn 4.200 bài báo khoa học thuộc 12 tạp chí trong hệ thống Học viện. Ngoài ra, Thư viện trường còn kết nối với Thư viện số của Trường Đại học Đà Lạt với đa dạng các nguồn tài liệu như tài liệu điện tử với 91.300 nhan đề; sách 60.575 nhan đề, 174.180 bản; luận văn, luận án: 2.922 nhan đề, 3.526 bản….
Mặc dù hạ tầng và phong trào chung có nhiều khởi sắc, thực trạng đọc sách của học viên vẫn còn những khoảng lặng đáng lo ngại. Một bộ phận học viên vừa học vừa làm nên quỹ thời gian dành cho việc nghiên cứu tài liệu tại thư viện còn hạn chế. Theo xu hướng chung tại Việt Nam, tỉ lệ đọc sách truyền thống còn thấp, trung bình chỉ đạt khoảng 4 cuốn/người/năm, thêm vào đó, sự bùng nổ của thiết bị thông minh khiến người học có xu hướng chuyển sang "đọc lướt", ưu tiên tra cứu tài liệu nhanh qua mạng xã hội thay vì nghiên cứu chuyên sâu các tác phẩm kinh điển. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới nhu cầu đọc sách của học viên tại thư viện Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, ngày càng ít học viên tìm đến thư viện, có trường hợp một số học viên tham gia chương trình học tại trường với thời gian 5 tháng nhưng chưa một lần sử dụng các dịch vụ của thư viện.
Thực tế cho thấy, học viên vẫn chưa khai thác hết các tài liệu hiện có trong thư viện, đặc biệt là các nguồn sách kinh điển. Tài liệu mà học viên sử dụng nhiều nhất vẫn chủ yếu là những cuốn giáo trình. Điểm bất cập nữa là mỗi một đầu sách có số lượng rất ít, có khi chỉ có một cuốn, vì vậy, nếu người này mượn, thậm chí mượn với thời gian dài thì người tới sau sẽ không thể tiếp cận được nguồn tài liệu đó.
Phát triển văn hóa đọc sẽ là yếu tố thúc đẩy quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu của học viên, góp phần hiện thực hóa 05 định hướng đổi mới của Nhà trường: Chuyển nhận thức từ người thầy là trung tâm sang người thầy và học viên là trung tâm; chuyển từ dạy - học kiến thức là chủ yếu sang dạy - học phát triển phẩm chất và năng lực; chuyển căn bản từ phương pháp dạy - học thụ động - độc thoại - lý thuyết sang phương pháp chủ động - trao đổi - xử lý tình huống; chuyển từ đánh giá điểm số sang đánh giá quá trình; chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý phục vụ và kiến tạo.
4. Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển văn hoá đọc cho học viên tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng
Để văn hóa đọc thực sự trở thành hơi thở trong đời sống học thuật của học viên tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, chuyển từ "khuyến khích" sang "tự thân".
Trước hết, cần nâng cao nhận thức và hình thành thói quen đọc sách của học viên. Việc làm này không chỉ nhằm thay đổi thái độ, hành vi mà còn tạo ra cách ứng xử chuẩn mực đối với tri thức sách hướng tới việc đọc sách mỗi ngày. Từ đó, hình thành các tổ, nhóm, câu lạc bộ đọc sách; giới thiệu, trao đổi, tặng sách cho nhau; phát động đọc sách theo các chủ đề hàng tháng phù hợp kế hoạch đào tạo của Nhà trường.
Phải chú trọng phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, tạo sự chuyển biến tích cực về chất lượng tự học, tự nghiên cứu của học viên. Tính tích cực, tự giác của học viên thể hiện trong trách nhiệm, hành vi và thói quen đọc sách. Muốn hiểu biết, muốn trở thành một người cán bộ tốt thì phải tăng cường nghiên cứu, tăng cường đọc sách. Văn hóa đọc không quan trọng ở số lượng mà quan trọng là hiệu quả của hoạt động đọc. Đây là bước khởi đầu cho quá trình tích cực hóa, quá trình chuyển hóa giáo dục thành tự giáo dục; từ bắt buộc, hành chính, khiên cưỡng sang tính tích cực, chủ động.
Quá trình tiếp nhận tri thức của học viên chịu sự tác động mạnh mẽ cả yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan. Họ phải tự nhận thức được mâu thuẫn và tự tìm ra biện pháp để giải quyết mâu thuẫn ấy trong quá trình tiếp nhận tri thức. Đó là mâu thuẫn giữa đòi hỏi phải có tri thức với hiện trạng chưa có hiểu biết nhiều về vấn đề được tiếp cận. Những tác động của các chủ thể trong môi trường cung cấp tri thức mang tính hành chính, bắt buộc thì học viên phải tạo thành nhu cầu bên trong để đọc, tìm hiểu, nắm bắt tri thức. Quá trình chuyển hóa ấy diễn ra liên tục từ thấp đến cao, mỗi bước tiến quá trình tiếp nhận tri thức của học viên là mỗi lần giải quyết được mâu thuẫn ở một giai đoạn, trình độ nhất định.

Ảnh: Sưu tầm
Thứ hai, Nhà trường cần đẩy mạnh chuyển đổi số "số hóa" tài liệu và hiện đại hóa không gian đọc, đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập, thi cử, đánh giá. Trong bối cảnh học viên đa phần là cán bộ, công chức, viên chức với quỹ thời gian hạn hẹp, việc xây dựng một thư viện số liên thông với nhiều nguồn hệ thống tư liệu khác nhau là giải pháp then chốt. Việc cung cấp tài khoản tra cứu e-book, văn bản quy phạm pháp luật và các chuyên đề lý luận trên nền tảng di động sẽ giúp học viên có thể đọc "mọi lúc, mọi nơi", biến những khoảng thời gian trống thành cơ hội tự học. Song song đó, cần cải tạo thư viện truyền thống thành các "không gian văn hóa đọc mở" với thiết kế hiện đại, thân thiện, tạo cảm hứng nghiên cứu thay vì những phòng đọc khô cứng kiểu cũ. Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập, thi cử theo hướng mở, đặt ra yêu cầu tư duy, đòi hỏi học viên phải chủ động, tích cực hơn trong nghiên cứu tài liệu, tham gia xây dựng bài ngay từ trên lớp, lấy đó làm thước đo để đánh giá kết quả học tập của học viên.
Thứ ba, gắn văn hóa đọc trực tiếp vào quy trình đào tạo và đánh giá. Nhà trường nên đổi mới phương pháp kiểm tra, thay vì các bài thi học thuộc lòng, cần tăng cường các bài tập tình huống, tiểu luận yêu cầu học viên phải trích dẫn, phân tích từ ít nhất 3-5 đầu sách tham khảo ngoài giáo trình. Mô hình "Mỗi tuần một cuốn sách lý luận" có thể được triển khai thông qua các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi bộ hoặc diễn đàn trên website nhà trường, nơi học viên chia sẻ cảm nhận và cách vận dụng kiến thức từ sách vào thực tiễn công tác tại đơn vị, địa phương mình. Đây là cách biến việc đọc từ áp lực thành nhu cầu tự thân để nâng cao trình độ chuyên môn.
Thứ tư, tổ chức các hoạt động kết nối và tôn vinh định kỳ. Cần duy trì và nâng tầm các hoạt động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam (21/4) gắn với đặc thù của tỉnh Lâm Đồng. Nhà trường có thể phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh hoặc các nhà xuất bản tổ chức các buổi "Tọa đàm tác giả - tác phẩm", giới thiệu những cuốn sách mới về bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng hay các gương điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Việc tổ chức các cuộc thi "Đại sứ văn hóa đọc" dành riêng cho học viên hệ Trung cấp lý luận chính trị sẽ tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ, tôn vinh những cá nhân có phương pháp đọc sách khoa học và hiệu quả.
Thứ năm, nâng cao trách nhiệm của thủ thư trong xây dựng văn hóa đọc cho học viên
Thủ thư phải chủ động thay đổi tư duy từ người "giữ sách" sang người "kết nối tri thức", không ngừng tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn và kỹ năng công nghệ số để quản lý kho tài liệu khoa học, hiện đại. Để tối ưu hóa công tác phục vụ, thủ thư cần chủ động nắm bắt nhu cầu, sở thích của học viên để tư vấn đúng nguồn tài liệu, đồng thời hướng dẫn các kỹ năng tra cứu, đánh giá thông tin một cách bài bản.
Người thủ thư phải đóng vai trò là "linh hồn" của các phong trào đọc bằng việc tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo về việc tổ chức các sự kiện như ngày hội sách, các câu lạc bộ đọc sách hoặc tọa đàm chia sẻ, nhằm biến thư viện thành một không gian văn hóa hấp dẫn thay vì chỉ là nơi mượn trả tài liệu thuần túy. Việc xây dựng thái độ phục vụ tận tâm, thân thiện và lắng nghe phản hồi của người học chính là giải pháp then chốt để tạo dựng môi trường đọc nhân văn, giúp học viên cảm thấy được truyền cảm hứng và hình thành thói quen đọc sách tự giác, bền vững.
Cuối cùng, phát huy vai trò "nêu gương" của đội ngũ giảng viên. Giảng viên phải là những "người truyền lửa", không chỉ dạy kiến thức mà còn phải truyền đạt phương pháp đọc, cách chọn sách và tư duy phản biện khi tiếp cận thông tin. Mỗi bài giảng cần được lồng ghép để giới thiệu, gợi ý về các cuốn sách hay, những tư liệu quý liên quan đến chuyên đề để khơi gợi sự tò mò của học viên. Khi giảng viên là một tấm gương về sự tự học và say mê đọc sách, học viên sẽ có động lực mạnh mẽ để soi mình và noi theo.
Xây dựng và phát triển văn hóa đọc tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng là một hành trình bền bỉ, cần sự cộng hưởng giữa nền tảng công nghệ, đổi mới giáo dục và tâm huyết của cả thầy và trò. Khi tri thức từ những trang sách được chuyển hóa thành bản lĩnh chính trị và năng lực thực thi công vụ, đó chính là thành công lớn nhất của công tác đào tạo cán bộ trong thời kỳ mới.
ThS. Trần Thị Hoài
Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở
VẬN DỤNG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG VÀO BÀI GIẢNG “XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN”
Tóm tắt: Bài viết phân tích việc vận dụng tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vào giảng dạy nội dung “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” trong chương trình Trung cấp lý luận chính trị. Trên cơ sở bám sát các quan điểm về hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và phát triển nền quản trị quốc gia hiện đại, bài viết đề xuất cách tích hợp nghị quyết vào từng mục của bài giảng. Qua đó, giúp học viên nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực vận dụng vào thực tiễn công tác, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Đại hội XIV của Đảng; quản trị quốc gia hiện đại; phát huy dân chủ; kiểm soát quyền lực.
Trên cơ sở tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, với các yêu cầu về thượng tôn pháp luật, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị quốc gia. Vì vậy, việc cập nhật các nội dung này vào bài giảng “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” là cần thiết nhằm bảo đảm tính thời sự và gắn với thực tiễn. Đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, nội dung học tập góp phần nâng cao nhận thức, củng cố tư duy pháp quyền và năng lực thực thi nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc trong bối cảnh mới.
Việc cập nhật, tích hợp nội dung tinh thần Đại hội XIV vào bài giảng cần đảm bảo trích dẫn chính xác, có nguồn rõ ràng và phản ánh đúng nội dung của văn kiện. Những nhận định quan trọng được chọn lọc tiêu biểu và lồng ghép hợp lý vào từng phần của bài giảng, để vừa tăng sức thuyết phục, vừa đảm bảo tính khoa học trong giảng dạy lý luận. Cụ thể:
- Vận dụng vào Mục 1. Cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Phần này tập trung phân tích các học thuyết lịch sử về nhà nước và pháp quyền. Dù không trích dẫn trực tiếp các điều khoản kỹ thuật, giảng viên cần lấy tinh thần Đại hội XIV làm "kim chỉ nam" để khẳng định sức sống của các giá trị lý luận kinh điển. Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được đặt trên nền tảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa có chọn lọc các giá trị phổ quát về nhà nước và pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Từ định hướng đó, trong giảng dạy, cần nhấn mạnh các học thuyết không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có tính đương đại và khả năng vận dụng, nhất là các nguyên lý về tổ chức quyền lực nhà nước, thượng tôn pháp luật và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Về cách lồng ghép, trong quá trình giảng dạy, khi trình bày các học thuyết về pháp quyền, cần liên hệ với yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong giai đoạn hiện nay; khi phân tích các quan điểm về tổ chức quyền lực nhà nước, cần gắn với yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; và khi đề cập đến vấn đề quyền con người, quyền công dân, cần liên hệ với việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Vận dụng vào Mục 2. Thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Nội dung Mục 2 được cập nhật theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở lý luận và đánh giá thực tiễn từ Văn kiện Đại hội XIV, qua đó giúp người học có cái nhìn toàn diện, khách quan về những kết quả đạt được cũng như những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay.
Về thành tựu trong phát huy dân chủ: Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới, Đại hội XIV tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của Nhân dân trong sự nghiệp phát triển đất nước “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [1]. Khi vận dụng vào giảng dạy, cần làm rõ rằng dân chủ không chỉ là nguyên tắc chính trị mà còn là động lực phát triển. Việc đề cao vị trí chủ thể của Nhân dân góp phần định hướng cho đội ngũ cán bộ, công chức nâng cao ý thức phục vụ, bảo đảm mọi hoạt động công vụ đều hướng tới lợi ích thiết thực của người dân.
Về kết quả xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật: Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, với định hướng: Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật; nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật, tạo môi trường ổn định, minh bạch cho phát triển. Những chuyển biến trong công tác xây dựng pháp luật thời gian qua thể hiện rõ xu hướng đổi mới tư duy quản lý nhà nước. Khi tích hợp nội dung này, giảng viên cần phân tích để học viên nhận thức rằng pháp luật ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo lập môi trường phát triển, không chỉ điều chỉnh hành vi mà còn tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực. Điều này phản ánh bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế gắn với yêu cầu phát triển bền vững.
Về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Có thể khái quát các định hướng này theo tinh thần chung là tiếp tục xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị nhà nước nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và chất lượng phục vụ Nhân dân. Trên cơ sở đó, Nhà nước được xác định theo định hướng phục vụ Nhân dân, lấy Nhân dân làm trung tâm trong mọi hoạt động quản lý.
Với chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn và nâng cao hiệu quả hoạt động đã và đang tạo ra những chuyển biến tích cực. Trong giảng dạy, cần nhấn mạnh rằng việc tinh gọn bộ máy không dừng lại ở việc giảm đầu mối, mà cốt lõi là nâng cao chất lượng vận hành: phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, giảm chồng chéo, tăng tính phối hợp và trách nhiệm. Qua đó, hướng tới xây dựng nền hành chính hiện đại, hoạt động thông suốt và phục vụ tốt hơn nhu cầu của xã hội. Trong thời gian gần đây, việc áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng dịch vụ công trực tuyến, nền tảng dữ liệu quốc gia đã giúp Nhà nước cải thiện hiệu lực quản lý và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đây là minh chứng rõ ràng cho xu hướng chuyển đổi số trong quản trị hiện đại.
Về những hạn chế, bất cập: Nghị quyết Đại hội XIV khẳng định: Bên cạnh các kết quả đạt được, thực tiễn vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Một số nội dung như phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống nhà nước còn thiếu đồng bộ; cơ chế kiểm soát quyền lực chưa phát huy đầy đủ hiệu quả, việc triển khai chuyển đổi số còn chưa đồng bộ, một số cơ quan chưa tích hợp đầy đủ công nghệ vào quy trình quản lý, dẫn tới hiệu quả chưa tối ưu. Khi đưa vào bài giảng, cần phân tích rõ những điểm hạn chế này để giúp học viên nhận diện đúng thực trạng, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ, nhất là trong việc tuân thủ kỷ luật, kỷ cương và tăng cường giám sát quyền lực.
Việc lồng ghép các đánh giá từ Đại hội XIV vào Mục 2 không chỉ giúp bài giảng bám sát thực tiễn mà còn tạo điều kiện để người học hiểu rõ cả hai mặt: thành tựu và hạn chế. Trên cơ sở đó, hình thành tư duy nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, tránh phiến diện, đồng thời nâng cao năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác.
3. Vận dụng Nghị quyết vào giảng dạy Mục 3. Định hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Việc cập nhật các nội dung mới từ Văn kiện Đại hội XIV được cụ thể hóa như sau:
Tại mục 3.1. Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Khi cập nhật vào giảng dạy vấn đề “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuôc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”,“hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu[2], giảng viên cần phân tích sâu triết lý "Dân là gốc": Thước đo cao nhất của mọi quyết sách[3] khẳng định mọi quyết sách phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của người dân. Đặc biệt, cần nhấn mạnh tiêu chuẩn mới trong quản trị: lấy "sự hài lòng của Nhân dân" làm thước đo tối cao cho hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là những điểm rất quan trọng khẳng định vai trò chủ thể của Nhân dân và việc phát huy dân chủ trong xây dựng, kiến thiết và phát triển đất nước.
Trong định hướng phát triển đất nước thứ 11 của Nghị quyết Đại hội XIV, Đảng ta yêu cầu “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân” [4]. Nội dung này được tích hợp vào mục 3.2 về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật. Khi vận dụng vào giảng dạy cần nhấn mạnh và phân tích kỹ nội dung “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả” để học viên thấy rõ đây là một điểm mới đặc biệt quan trọng, đất nước bước vào thời kỳ chuyển đổi từ quản lý truyền thống sang quản trị hiện đại, phục vụ phát triển, hệ thống pháp luật cũng phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với bối cảnh mới. Việc hoàn thiện pháp luật hiện nay cần đảm bảo tính thích ứng với chuyển đổi số, bảo đảm mọi quy định pháp luật không chỉ nghiêm minh mà còn hỗ trợ quản lý dữ liệu, dịch vụ công và hội nhập số. Pháp luật cần điều chỉnh kịp thời các quy định về quản lý công nghệ, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, đồng thời tháo gỡ rào cản trong môi trường số. Giảng viên cần chỉ rõ việc hoàn thiện pháp luật không chỉ dừng ở số lượng văn bản mà phải hướng tới tính nghiêm minh, bảo vệ công lý và tương thích với bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập.
Đối với định hướng phát triển đất nước, Nghị quyết nêu “Bảo đảm hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân” [5]. Nội dung này được vận dụng vào giảng dạy mục 3.3 về tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm làm rõ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy của hệ thống chính trị nói chung cần phải hoạt động có hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và đặc biệt cần làm rõ rằng việc tinh gọn bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội đều phải hướng tới đích đến cuối cùng là nâng cao chất lượng phục vụ, khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo. Đây cũng là đích đến mà mỗi cán bộ, công chức phải hướng tới và thực hiện cho tốt.
Nhiệm vụ thứ 2 trong Nghị quyết Đại hội XIV xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ”[6], nội dung này được cập nhật vào giảng dạy mục 3.4 về xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Điểm cần nhấn mạnh là yêu cầu "không ngừng tự đổi mới". Khi cập nhật vào giảng dạy, giảng viên cần định hướng học viên từ bỏ tư duy làm việc cảm tính, thói quen cũ để chuyển sang phong cách làm việc sáng tạo, chuyên nghiệp và thượng tôn pháp luật.
Nhiệm vụ thứ 2 trong Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục xác định “Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”[7]. Nội dung này cập nhật vào giảng dạy mục 3.5 về tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Khi cập nhật nội dung này vào giảng dạy cần chú ý vấn đề quan liêu, tham nhũng, tiêu cực vẫn là một nguy cơ trong các nguy cơ dẫn tới mất nước, mất chế độ, cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí trong các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức các cấp. Từ đó, nâng cao ý thức trách nhiệm và bản lĩnh chính trị cho học viên ngay từ cơ sở.
Định hướng số 12 của Nghị quyết xác định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới”[8], được vận dụng vào mục 3.6 về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu làm rõ cho học viên nắm được đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng chính là đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền đối với Nhà nước. Trọng tâm là làm rõ mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý trong điều kiện pháp quyền, đảm bảo Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối và Nhà nước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật, tránh bao biện làm thay hoặc buông lỏng vai trò định hướng.
Kết luận
Tóm lại, việc vận dụng nội dung mới của Nghị quyết Đại hội XIV và phân tích sâu ý nghĩa, mục tiêu từng nội dung vào từng mục, tiểu mục của Bài 1 trong giáo trình phần “Nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật Việt Nam” giúp bài giảng không chỉ phản ánh đầy đủ tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng mà còn nâng cao chiều sâu lý luận và giá trị thực tiễn; góp phần hình thành nhận thức toàn diện cho học viên về quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để giảng viên chủ động nghiên cứu, cập nhật và sử dụng hiệu quả nội dung Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng vào bài giảng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.
ThS. Ngô Thị Hồng Loan
Tài liệu tham khảo
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị: Nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị, H.2021.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Tập II, Tr382
[2] Sđd, Tập II, tr382.
[3] Sđd, Tập I, tr38
[4] Sđd, Tập II, tr383
[5] Sđd, Tập II, tr383
[6] Sđd, Tập II,
[7] Sđd, Tập II, tr385
[8] Sđd, Tập II, tr384






