Thứ sáu, 15/05/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026 - 2031

Super User

Super User

Tóm tắt: Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là thành quả vĩ đại của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau 21 năm kháng chiến chống Mỹ và 55 ngày đêm tấn công thần tốc, quân dân ta đã đập tan chế độ thực dân mới, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975. Chiến thắng này không chỉ đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa dân tộc vào kỷ nguyên độc lập, tự do mà còn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đây là sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh, đồng thời là minh chứng đanh thép để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc lịch sử. 

Từ khóa: Tổng tiến công, Việt Nam, lịch sử, thắng lợi.

Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dạy mùa xuân năm 1975 là thành quả của nhiều nhân tố, trong đó sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một nhân tố cơ bản, quan trọng. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Qua đó, Đảng ta đã đưa ra được những quyết định chính xác, trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình thế giới, trong nước, tương quan lực lượng giữa ta và địch để xác định đúng thời cơ lịch sử, hạ quyết tâm chiến lược đánh bại hoàn toàn đội quân của chính quyền Sài Gòn, giành thắng lợi triệt để trong thời gian ngắn nhất.

Những ngày tháng tư cách đây 51 năm, quân dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Số cố vấn quân sự còn lại của Mỹ ở miền Nam Việt Nam cũng phải lên máy bay rút chạy. Lúc 04 giờ 45 phút sáng 30 tháng 4, Đại sứ Graham Martin[[1]] và đoàn tùy tùng lên máy bay trực thăng rời Sài Gòn như một cột mốc đánh dấu chấm hết cho sự dính líu kéo dài 21 năm của đế quốc Mỹ vào Việt Nam. Lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay trên phủ Tổng thống ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, đó là minh chứng  cho sự thống nhất, độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam sau hơn 100 năm đất nước bị xâm lược, chiếm đóng và chia cắt.

Trở lại lịch sử, sau thất bại của quân đội thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ (ngày 7-5-1954), hiệp định Genève được kí kết vào ngày 21/7/1954. Tuy nhiên, phái đoàn Hoa Kỳ từ chối ký Hiệp định Genève. Âm mưu của đế quốc Mỹ là biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và chia cắt lâu dài đất nước ta, như Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị từng nhận định: “đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục âm mưu dùng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, hòng biến miền Nam thành một “quốc gia” thân Mỹ mà thực chất vẫn là thuộc địa kiểu mới của Mỹ”[[2]]. Để thực hiện âm mưu và tham vọng ngông cuồng của mình, đế quốc Mỹ đã đưa hơn 600.000 quân, bao gồm cả quân Mỹ và các đội quân tay sai khác sang Việt Nam làm chỗ dựa cho hơn một triệu quân ngụy. Mỹ đã huy động phần lớn lực lượng lục quân, thủy binh, không quân chiến thuật, không quân chiến lược, kể cả “pháo đài B52” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam, “đẩy miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá”. Mỹ ném hơn 7,8 triệu tấn bom, rải khoảng 85 triệu lít chất độc hóa học, chủ yếu là dioxin, và tiêu tốn 676 tỷ đô la cho cuộc chiến tranh Việt Nam. Đế quốc Mỹ thực hiện cuộc hủy diệt này không phải để giải phóng dân tộc Việt Nam mà với mục tiêu chiến lược là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương, biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thuộc địa kiểu mới, đặt nền móng cho sự thống trị toàn cầu của chúng.

Hậu quả của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước vẫn còn hiện hữu. Ngoài việc hơn 2 triệu người Việt Nam bị thương tật suốt đời; khoảng 2 triệu người phơi nhiễm các loại hóa chất độc hại; 1,1 triệu quân nhân hy sinh và 600.000 quân nhân bị thương tật. Trong số những người đã hy sinh, có hơn 300.000 quân nhân vẫn chưa tìm thấy hài cốt; những nạn nhân phơi nhiễm chất độc hóa học, những vùng đất bị nhiễm độc, bom mìn vẫn còn rải rác khắp nơi, tình trạng trẻ em bị dị dạng ngay từ khi mới sinh ra và hàng triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm điôxin trong cuộc chiến. Nhân dân Việt Nam vẫn đang phải gồng mình với hậu quả bi thương, khắc nghiệt của cuộc chiến này.

Tuy nhiên, kết quả mà đế quốc Mỹ và tay sai nhận được là quân và dân ta càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng, còn kẻ địch càng đánh càng bị cô lập, phân hóa và sa lầy. Thực tế, chỉ qua 55 ngày đêm, từ chiến dịch: Tây Nguyên, đến: Huế - Đà Nẵng và cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng. Hơn 1 triệu quân ngụy cùng bộ máy của chúng đã bị đập tan, chế độ thực dân mới được đế quốc Mỹ xây dựng qua 5 đời tổng thống (Dwight D. Eisenhower, John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford) đã hoàn toàn sụp đổ.

Chính vì vậy mà chiến thắng ngày 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước qua hàng ngàn năm lịch sử. Một cuộc chiến mà khi nhìn lại, George C. Herring đã viết: “Chính quyền Việt Nam Cộng hoà sụp đổ chỉ sau 55 ngày kể từ khi quân giải phóng bắt đầu tấn công. Điều này cũng chứng minh cho căn bệnh mà chính quyền này đã bị nhiễm phải ngay từ khi thành lập: sự manh mún về chính trị; tình trạng thiếu các nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng và có năng lực; một tầng lớp trên mệt mỏi và tham nhũng không có khả năng điều chỉnh cho thích nghi đã tạo nên một cơ sở quốc gia yếu kém đến mức nguy hiểm... Trước những thực tế khắc nghiệt này, nỗ lực nhằm tạo nên một thành trì chống chủ nghĩa cộng sản ở ngay phía nam vĩ tuyến 17 đã có mầm mống thất bại ngay từ đầu.”[[3]]

Đánh giá về thắng lợi này, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976) đã nhận định rằng: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[[4]].

Chiến công lẫy lừng mùa xuân năm 1975 cách đây hơn 50 năm vẫn in đậm trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, bạn bè quốc tế và nhân dân tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới; trở thành sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ra sức phấn đấu, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Như vậy, xuất phát từ tinh thần khát khao độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất của toàn thể dân tộc, chiến thắng này khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và vững bước xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chính vì vậy mà những luận điệu xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chiến thắng của Nhân dân ta, phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà cả dân tộc ta đã lựa chọn và kiên trì theo đuổi đều không có cơ sở để tồn tại. Hay mọi sự lãng quên, coi thường, xuyên tạc sự hy sinh, mất mát nói trên của Nhân dân Việt Nam, các hoạt động tìm cách chống phá, gây mất ổn định, cản trở sự phát triển của Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của những phần tử lưu vong phản quốc, bọn cơ hội chính trị, bất mãn …dù là trong suy nghĩ đều đáng lên án và cần phải được đấu tranh loại bỏ, vì đó là những hành động sai, trái, có tội với Nhân dân, với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc để đất nước có được hòa bình, độc lập, thống nhất, hội nhập và phát triển như hôm nay./.

ThS. Huỳnh Văn Thông

Khoa Nhà nước và Pháp luật


 [1] Graham A. Martin (1912 - 1990) là một nhà chính trị và ngoại giao Hoa Kỳ, ông đã kế nhiệm Ellsworth Bunker làm Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa năm 1973. Ông là đại sứ Mỹ cuối cùng tại Việt Nam Cộng hòa. Trước đó Martin làm Đại sứ Mỹ tại Thái Lan và là đại diện Mỹ tại SEATO.(Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization), cũng còn gọi là Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á hay Tổ chức Minh ước Đông Nam Á  là một tổ chức quốc tế đã giải tán. Tổ chức phòng vệ này được thành lập căn cứ theo Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á hay Hiệp ước Manila được ký vào tháng 9 năm 1954).

[2] Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2000, tr.167-168.

[3] George C. Herring. Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950 – 1975, tr. 492.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, t.37, tr.471.

 

 

 

 

 

Tóm tắt: Văn kiện Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên nhấn mạnh “niềm tin” và “đồng thuận xã hội” như nền tảng cốt lõi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại đoàn kết được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, cách tiếp cận và phương thức thực hiện được đổi mới toàn diện, phù hợp bối cảnh phát triển và hội nhập.

Từ khóa: Đại hội XIV; niềm tin nhân dân; đồng thuận xã hội; đại đoàn kết toàn dân tộc.

1. Mở đầu

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh to lớn bảo đảm mọi thắng lợi. Bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu phát huy truyền thống đoàn kết càng đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã kế thừa nhất quán quan điểm đó, đồng thời có những bổ sung, phát triển quan trọng cả về nhận thức và phương thức thực hiện. Điểm nổi bật là sự nhấn mạnh vai trò của niềm tin và đồng thuận xã hội như nền tảng bền vững của khối đại đoàn kết. Cùng với đó, đại đoàn kết được đặt trong chỉnh thể gắn bó hữu cơ với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Những nội dung mới này thể hiện tư duy phát triển toàn diện, sâu sắc, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Văn kiện cũng đề cao tính chủ động, linh hoạt trong đổi mới nội dung, phương thức tập hợp, vận động nhân dân. Đây không chỉ là định hướng chiến lược mà còn là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa thành các giải pháp thiết thực trong thực tiễn. Việc nghiên cứu, làm rõ những điểm mới này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay; qua đó, góp phần củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

2. Điểm mới nổi bật trong Văn kiện Đại hội XIV về phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Thứ nhất, Văn kiện nhấn mạnh yếu tố “niềm tin” và “đồng thuận xã hội”. Lần đầu tiên, Văn kiện Đại hội XIV đặt vấn đề “củng cố, phát huy niềm tin của nhân dân” như một nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Đây là điểm then chốt, vì sự đoàn kết chỉ bền vững khi dựa trên niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đề cao việc “tạo sự đồng thuận cao trong xã hội”, đây vừa là mục tiêu, vừa là phương pháp để phát huy sức mạnh tập thể của cả dân tộc.

Việc lần đầu tiên nhấn mạnh “niềm tin” và “đồng thuận xã hội” cho thấy bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Niềm tin của nhân dân không chỉ là kết quả của lãnh đạo, quản lý hiệu quả mà còn trở thành mục tiêu cần chủ động xây dựng, củng cố. Khi niềm tin được tăng cường sẽ tạo ra sự gắn kết bền chặt giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đồng thời, “đồng thuận xã hội” được xác định vừa là đích đến, vừa là phương thức để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội. Cách tiếp cận này góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và tạo động lực cho phát triển bền vững đất nước.

Thứ hai, Văn kiện gắn kết chặt chẽ đại đoàn kết với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Đảng ta nhận thức rõ rằng muốn đoàn kết dân tộc, trước hết phải đoàn kết nội bộ Đảng, phải làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được xác định là nhiệm vụ then chốt để giữ vững niềm tin và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việc gắn đại đoàn kết toàn dân tộc với xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện nhận thức ngày càng sâu sắc về vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng. Đoàn kết trong Đảng được xác định là tiền đề quyết định để củng cố và mở rộng đoàn kết trong toàn xã hội. Một Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ tạo cơ sở vững chắc để củng cố niềm tin của nhân dân. Đồng thời, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ là yêu cầu nội tại mà còn là giải pháp trực tiếp để tăng cường khối đại đoàn kết. Cách tiếp cận này bảo đảm sự thống nhất giữa xây dựng Đảng với phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong giai đoạn mới.

Thứ ba, Văn kiện tiếp cận đại đoàn kết một cách toàn diện và sâu rộng hơn. Cụ thể, trong lĩnh vực kinh tế thì khuyến khích, tạo môi trường để mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, doanh nghiệp, doanh nhân đều có thể đóng góp, cùng phát triển đất nước giàu mạnh. Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội thì coi trọng vai trò của trí thức, văn nghệ sĩ, chuyên gia; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tinh thần cống hiến trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên.

Việc tiếp cận đại đoàn kết theo hướng toàn diện, sâu rộng cho thấy sự mở rộng cả về phạm vi và đối tượng tập hợp lực lượng. Trong lĩnh vực kinh tế, mọi thành phần và chủ thể đều được khuyến khích tham gia, qua đó phát huy tối đa nguồn lực cho phát triển đất nước. Ở lĩnh vực văn hóa - xã hội, vai trò của trí thức, văn nghệ sĩ, chuyên gia được đề cao, gắn với việc khơi dậy khát vọng cống hiến trong toàn dân, nhất là thế hệ trẻ.

Bên cạnh đó, với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, Đảng ta có cách tiếp cận mở, thiết thực hơn, coi trọng cả nguồn lực vật chất và trí tuệ; đồng thời, tạo điều kiện để họ giữ gìn bản sắc văn hóa, hướng về Tổ quốc. Cách tiếp cận này thể hiện tư duy đoàn kết không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra toàn cầu, phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay.

Thứ tư, phương thức thực hiện được nhấn mạnh là “tiếp tục đổi mới”, cụ thể là nhấn mạnh việc “đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức tập hợp, vận động nhân dân” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân một cách thiết thực, hiệu quả. Cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng nhóm đối tượng trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Việc nhấn mạnh “tiếp tục đổi mới” phương thức thực hiện cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả công tác tập hợp, vận động quần chúng trong bối cảnh mới. Không chỉ dừng lại ở nội dung tuyên truyền, các tổ chức cần đổi mới cả cách tiếp cận, hình thức và phương pháp hoạt động theo hướng thiết thực, gần dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được xác định là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò kết nối và phát huy sức mạnh của nhân dân. Đồng thời, việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo theo từng nhóm đối tượng giúp nâng cao tính thuyết phục và hiệu quả thực tiễn. Cách tiếp cận này phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước.

3. Kết luận

Tóm lại, điểm mới nổi bật về đại đoàn kết toàn dân tộc trong Văn kiện Đại hội XIV là chuyển từ nhận thức về “phát huy” sang tập trung xây dựng, củng cố nền tảng của đại đoàn kết toàn dân tộc, đó chính là niềm tin và đồng thuận xã hội, thông qua việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế - xã hội và thực hành dân chủ rộng rãi, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng. Việc nhấn mạnh niềm tin, đồng thuận xã hội; gắn kết chặt chẽ với xây dựng, chỉnh đốn Đảng; mở rộng phạm vi đoàn kết toàn diện, sâu rộng; cùng với yêu cầu đổi mới phương thức thực hiện đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất, phù hợp với bối cảnh mới. Những nội dung này không chỉ củng cố nền tảng chính trị - xã hội mà còn khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực và khát vọng phát triển đất nước. Đồng thời, đó cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả công tác dân vận và phát huy vai trò của các chủ thể trong hệ thống chính trị. Trong thực tiễn, việc quán triệt và vận dụng sáng tạo các quan điểm này có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, qua đó, góp phần tạo động lực bền vững cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

ThS. Chu Thị Thu Trang

   GV Khoa Xây dựng Đảng


* Tài liệu tham khảo

1. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (2026), Tài liệu hỏi - đáp về nội dung cơ bản của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001720923
Đang truy cập : 15