Thứ sáu, 15/05/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026 - 2031

Super User

Super User

Bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp Việt Nam là nguyên tắc hiến định cơ bản, phản ánh bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, chính quyền địa phương - cấp chính quyền trực tiếp gắn bó với Nhân dân - giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa các quyền con người, quyền công dân. Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp đặt ra những yêu cầu mới đối với bảo đảm quyền con người, theo hướng tinh gọn bộ máy, rút ngắn quy trình, giảm tầng nấc trung gian, gắn trách nhiệm của chính quyền với người dân, đồng thời tăng cường phân định thẩm quyền và trách nhiệm giải trình. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp Việt Nam gắn với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm các quyền hiến định được thực hiện một cách thực chất trong đời sống xã hội

1. Cơ sở hiến định của việc bảo đảm quyền con người gắn với tổ chức chính quyền địa phương

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 xác lập quyền con người là những quyền hiến định cơ bản của cá nhân, được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm; lần đầu tiên được quy định đầy đủ, có hệ thống và tập trung trong Chương II, thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lập hiến và quản trị quốc gia. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”; đồng thời, Khoản 2 Điều 14 xác lập nguyên tắc hạn chế quyền chỉ trong những trường hợp thật sự cần thiết và phải do luật định. Việc bảo đảm quyền con người là trách nhiệm của toàn bộ bộ máy nhà nước thông qua hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó chính quyền địa phương giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì là cấp chính quyền trực tiếp tiếp xúc với Nhân dân và tổ chức thực hiện phần lớn các quyền hiến định trong đời sống hằng ngày; do đó, tổ chức chính quyền địa phương phải được thiết kế theo hướng bảo đảm quyền con người được thực hiện kịp thời, đầy đủ và thực chất.

2. Vai trò của chính quyền địa phương hai cấp trong bảo đảm quyền con người

Thứ nhất, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước, qua đó bảo đảm quyền con người một cách kịp thời và thực chất

Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp thể hiện bước phát triển mới trong tư duy quản trị nhà nước, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người trong giai đoạn hiện nay. So với mô hình chính quyền địa phương ba cấp, mô hình hai cấp có ưu thế rõ nét trong việc tinh gọn bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, khắc phục tình trạng chồng chéo thẩm quyền, phân tán trách nhiệm - những hạn chế từng tác động trực tiếp đến chất lượng giải quyết công việc và quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Khi quy trình tổ chức và thực thi quyền lực được rút gọn, minh bạch và rõ trách nhiệm, các quyền con người có điều kiện được bảo đảm kịp thời, trực tiếp thống nhất và thực chất hơn. Nhân dân thực sự trở thành chủ thể của quyền lực nhà nước, đồng thời là “khách hàng đặc biệt” mà Nhà nước có nghĩa vụ phải phục vụ. Chính quyền địa phương hai cấp là nhằm để thực hiện mục tiêu đó.

Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực, tạo cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặc biệt nhấn mạnh việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Việc giao thẩm quyền cho cấp chính quyền thực hiện hiệu quả hơn không chỉ nâng cao tính chủ động, linh hoạt của địa phương trong quản lý và điều hành, mà còn tạo cơ sở để xác lập rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đây là điều kiện quan trọng nhằm phòng ngừa quan liêu, lạm quyền, vô trách nhiệm – những nguy cơ trực tiếp xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân.

Thứ ba, mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và tăng cường giám sát, phản biện xã hội trong bảo đảm quyền con người

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo điều kiện thuận lợi để phát huy quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân và vai trò giám sát, phản biện xã hội. Khi bộ máy chính quyền được tinh gọn, thẩm quyền và trách nhiệm được phân định rõ, Nhân dân có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thông tin, giám sát hoạt động của chính quyền và tham gia vào quá trình quản lý nhà nước ở địa phương. Qua đó, việc bảo đảm quyền con người không chỉ được thực hiện thông qua cơ chế quản lý hành chính, mà còn thông qua cơ chế kiểm soát quyền lực từ phía Nhân dân và xã hội, phù hợp với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, mô hình chính quyền địa phương hai cấp gắn với chuyển đổi số và tinh gọn bộ máy góp phần nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công, bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và hiện thực hóa quyền con người theo Hiến pháp

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng với chuyển đổi số, sắp xếp tinh gọn bộ máy, xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền số giúp giải quyết nhu cầu của người dân và tổ chức 24/7; thêm vào đó, việc tinh gọn giúp tiết kiệm ngân sách nhà nước để tập trung nguồn lực nhiều hơn cho phúc lợi xã hội, an sinh xã hội – một trong những quyền con người cơ bản được hiến pháp quy định và Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm, vấn đề này đã được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”(Điều 34).

Chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là mô hình tổ chức bộ máy hợp lý, mà còn là thiết chế then chốt trong việc hiện thực hóa các quy định của Hiến pháp về quyền con người. Nếu được tổ chức và vận hành đồng bộ, hiệu quả, mô hình này sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, qua đó tạo nền tảng chính trị – xã hội vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp trong bảo đảm quyền con người

Thực tiễn triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực bước đầu, vẫn còn những hạn chế nhất định như: cơ chế phân cấp, phân quyền ở một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ; năng lực thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu; trách nhiệm giải trình, tính minh bạch trong hoạt động của chính quyền địa phương còn có mặt chưa cao; việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong phục vụ Nhân dân chưa đồng đều. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu phải có các giải pháp đồng bộ, căn cơ nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong điều kiện mới.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Hiến pháp năm 2013 và các nội dung sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 203/2025/QH15. Trọng tâm là làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp chính quyền trong tổ chức thực hiện quyền con người, khắc phục tình trạng chồng chéo, né tránh trách nhiệm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.

Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Việc giao thẩm quyền cho chính quyền địa phương hai cấp phải đi đôi với cơ chế kiểm soát chặt chẽ, xác lập rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, nhằm phòng ngừa quan liêu, lạm quyền, xâm hại quyền con người.

Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương hai cấp theo hướng chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ Nhân dân. Đây là giải pháp mang tính quyết định, bởi quyền con người chỉ được bảo đảm thực chất khi được thực thi bởi đội ngũ cán bộ có năng lực, đạo đức công vụ và ý thức trách nhiệm cao.

Thứ tư, đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số trong hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp. Cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, bảo đảm công khai, minh bạch và thuận tiện cho Nhân dân trong tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hành chính và giám sát hoạt động của chính quyền. Chuyển đổi số không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là phương thức quan trọng để bảo đảm quyền con người trong điều kiện phát triển kinh tế số, xã hội số hiện nay.

Thứ năm, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp. Thông qua giám sát và phản biện xã hội, quyền lực nhà nước được kiểm soát, quyền con người được bảo vệ và bảo đảm thực chất hơn.

Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ tạo nền tảng quan trọng để chính quyền địa phương hai cấp phát huy đầy đủ vai trò là thiết chế trực tiếp bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp Việt Nam là nhiệm vụ có tính nguyên tắc, xuyên suốt trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 2013 đã xác lập rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước để hiện thực hóa các quyền hiến định. Trong bối cảnh đó, việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 có ý nghĩa trực tiếp đối với bảo đảm quyền con người. Thông qua tinh gọn bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, làm rõ thẩm quyền và tăng cường trách nhiệm giải trình, mô hình này tạo điều kiện để quyền con người, quyền công dân được thực hiện nhanh chóng, trực tiếp và đầy đủ hơn ở cấp gần dân. Chính quyền địa phương hai cấp, khi được tổ chức và vận hành hiệu quả, sẽ là thiết chế then chốt trong việc đưa các quy định của Hiến pháp về quyền con người vào thực tiễn./.

ThS. Lê Thị Thảo

Giảng viên khoa Nhà nước & pháp luật

1.Đặt vấn đề:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Vì vậy xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo bồi dưỡng rèn luyện trong mỗi giai đoạn cách mạng. Đây là một nội dung quan trọng và cũng là một nhiệm vụ then chốt trong công tác xây dựng Đảng và được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng trong bài “Tư cách một người cách mệnh”(2) - bài đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh. “Tư cách một người cách mệnh” không chỉ là một tác phẩm tuyên truyền mà chính là giá trị đạo đức của một người cộng sản cần phải có suốt đời để phụng sự Tổ quốc, giai cấp và nhân loại dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Trải qua mỗi giai đoạn cách mạng, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã giáo dục, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Ngày nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, để thực hiện được mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”(3), Đại hội XIV của Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, định hướng chiến lược, trong đó công tác cán bộ tiếp tục được xác định là một trong những nội dung then chốt của công tác xây dựng Đảng. “Tư cách một người cách mệnh” trong bối cảnh lịch sử mới của đất nước và dân tộc đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi mới cao hơn đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

2. Những nội dung về “Tư cách một người cách mệnh”

Đặt trong bối cảnh lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định không có nhiều thời gian để trình bày, để phân tích nên nội dung trong tác phẩm Đường Kách mệnh được người viết rất ngắn gọn, dễ hiểu: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ  nhớ… việc gì thì nói rất giản tiện,  mau mắn, chắc chắn… không tô vẽ trang hoàng gì cả”(4). Với việc xác định viết sách để tuyên truyền và tổ chức thực hiện song hành, để cho ai đọc họ cũng rõ vấn đề.

Vì vậy, Người đã xác định những giá trị cốt lõi của một người cách mệnh cần phải rèn luyện để có được với ba trụ cột cần phải có:

Thứ nhất: Người yêu cầu Tự mình phải: (1) Cần kiệm; (2) Hòa mà không tư; (3) Cả quyết sửa lỗi mình; (4) Cẩn thận mà không nhút nhát; (5) Hay hỏi; (6) Nhẫn nại (chịu khó); (7) Hay nghiên cứu, xem xét; (8)Vị công vong tư; (9) Không hiếu danh, không kiêu ngạo; (10) Nói thì phải làm; (11) Giữ chủ nghĩa cho vững; (12) Hy sinh; (13) Ít lòng tham muốn về vật chất; (14) Bí mật. Đây là những yêu cầu cơ bản về đạo đức của một người cách mạng, là nền tảng để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”, đủ sức gánh vác sự nghiệp cách mạng của dân tộc. 

Thứ hai: Đối người phải: (1) Với từng người thì khoan thứ; (2) Với đoàn thể thì nghiêm; (3) Có lòng bày vẽ cho người; (4) Trực mà không táo bạo; (5) Hay xem xét người. Với năm yêu cầu của người cách mạng cần phải có trong quan hệ với đồng chí, đồng sự và Nhân dân, yêu cầu nhìn nhận mọi việc phải đặt dưới giá trị của chuẩn mực đạo đức, của tình người, của tình thương và cần phải là người “có tấm lòng quảng đại”.  Theo Người chính giá trị đạo đức của một người cách mệnh được thể hiện rõ trong quan hệ với người khác chính là sợi dây để kết nối và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, cùng nhau hoàn thành sứ mệnh được Đảng, đoàn thể và Nhân dân giao phó.

Thứ ba: Làm việc phải: (1) Xem xét hoàn cảnh kỹ càng; (2) Quyết đoán; (3) Dũng cảm; (4) Phục tùng đoàn thể. Đây là những yêu cầu về phẩm chất và năng lực chuyên môn mà người cách mệnh phải trui rèn cho được. Giá trị tư tưởng là ở chỗ Hồ Chí Minh đã đặt ra yêu cầu là trong công việc của người cách mạng phải luôn luôn xem xét sự việc, hiện tượng một cách kỹ càng, đầy đủ, sâu rộng. Yêu cầu này phù hợp với “quan điểm lịch sử cụ thể” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Cùng với đó là phương pháp làm việc dứt khoát, tinh thần cách mạng cao độ và đặc biệt là tính tổ chức kỷ luật. Đây là những giá trị Đảng ta đã vận dụng vào trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị hiện nay, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “tư cách một người cách mệnh” trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

Kế thừa những trụ cột trong “Tư cách một người cách mệnh”; trong bối cảnh mới, đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình; phát huy những kết quả đã đạt được trong thời gian vừa qua, với quan điểm nhất quán được Đảng ta xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”(5). Thời gian qua đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ Nhân dân thể hiện rõ nét thông qua cuộc cách mạng về tinh giản tổ chức bộ máy từ Trung ương tới cơ sở. Với quyết tâm chính trị cao, sự đồng thuận của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị và toàn thể Nhân dân, chúng ta đã thành công bước đầu trong sắp xếp đồng bộ, hiệu quả hệ thống chính trị; xây dựng chính quyền địa phương hai cấp; sáp nhập cấp xã, cấp tỉnh. Đây là kết quả mang tính lịch sử của giai đoạn chuyển mình của dân tộc.

Tuy nhiên, trong thời gian tới cần khắc phục một số vấn đề tồn tại, hạn chế trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay như: “Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; … Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, …”(6). Những tồn tại, hạn chế nêu trên không chỉ ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần đẩy mạnh hơn quan điểm, đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ “đông” mà cần phải  “mạnh” về chất lượng, thực sự tiêu biểu về trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và tinh thần cống hiến. Phải tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, khả năng thích ứng nhanh với những biến động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế. Đồng thời, cán bộ phải luôn đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân lên trên hết, trước hết. “Dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”(7) không chỉ là yêu cầu về phẩm chất cá nhân, mà còn là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.

Cụ thể hoá tư tưởng Hồ Chí Minh về “Tư cách một người cách mạng”, ngày 09/5/2024, Bộ Chính trị Khoá XIII đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Đây là những chuẩn mực nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, thực hiện tốt công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội: Cấp ủy Đảng các cấp cần xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể để đẩy mạnh hơn nữa công các tuyên truyền sâu rộng về đường lối chính trị, quan điểm lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới; củng cố vững chắc tư tưởng, lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tổ chức Đảng các cấp và cả hệ thống chính trị cũng như bồi đắp niềm tin chính trị cho Nhân dân.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, bao gồm quy định của Đảng và quy định của Nhà nước về phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ, đảng viên. Tập trung hoàn thiện thể chế về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm gắn với khung năng lực và tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể; hoàn thiện thể chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân trong bối cảnh chuyển đổi số.

Thứ ba, xây dựng cơ chế, thể chế để kiểm soát quyền lực hiệu quả, nhất là trong công tác cán bộ: Thực hiện văn hóa công vụ liêm chính, chuyên nghiệp, khoa học; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm tiêu chí quan trọng; lấy dữ liệu và kết quả làm căn cứ đánh giá; kiên quyết ngăn chặn tiêu cực; tăng minh bạch và trách nhiệm giải trình. Nỗ lực chân chính vì dân, vì nước được ghi nhận, bảo vệ; bảo đảm dân chủ, công khai, công tâm, khách quan theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể. 

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, theo Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Đại hội XIV đã mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Vì vậy việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay thấm nhuần “Tư cách một người cách mệnh” theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn là một yêu cầu có tính cấp thiết, thường xuyên nhằm “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”./.

Ths.Trần Thị Thuỳ

GV Khoa Xây dựng Đảng


Tài liệu nghiên cứu

1. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.292.

2. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 15, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, trang 131

3,4. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 2, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.280, tr.283.

5,6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 26-NQ/TU ngày 19/5/2018, Hội nghị Trung ương 7 Khoá XII về về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

7. Bộ Chính trị: Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001721056
Đang truy cập : 19