Thứ hai, 31/08/2026

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 81 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 - 19/8/2026) VÀ QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 - 02/9/2026)!

Thứ hai, 31 Tháng 8 2026 11:01

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – NHỮNG GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN

Tóm tắt: Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là một văn kiện chính trị - pháp lý có giá trị đặc biệt, kế thừa và phát triển sáng tạo những tư tưởng tiến bộ của nhân loại về quyền con người, từ đó khẳng định quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của tất cả các dân tộc trên thế giới. Bằng hệ thống lập luận chặt chẽ và những sự thật lịch sử không thể phủ nhận, Tuyên ngôn vạch trần bản chất của chế độ thực dân, khẳng định tính chính nghĩa của Cách mạng Tháng Tám và tuyên bố trước thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những giá trị về độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc và quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trong Tuyên ngôn tiếp tục có ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Từ khóa: Tuyên ngôn Độc lập; độc lập dân tộc; tự do; quyền dân tộc; chủ quyền nhân dân.

I. MỞ ĐẦU

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Sự kiện này đánh dấu thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, chấm dứt chế độ quân chủ tồn tại hàng nghìn năm, kết thúc ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và phát xít, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Từ thân phận của người dân một nước thuộc địa, nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng của Nhà nước Việt Nam mới. Với 1.120 chữ được sắp xếp trong 49 câu, tác phẩm thể hiện sâu sắc tư tưởng chính trị, tư duy pháp lý, tầm nhìn thời đại và chủ nghĩa nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không chỉ là lời tuyên bố về quyền độc lập, chủ quyền của quốc gia Việt Nam, Tuyên ngôn Độc lập còn là một áng văn lập quốc mẫu mực, kết tinh ý chí độc lập, tự cường và khát vọng tự do của dân tộc.

II. NỘI DUNG

2.1. Kế thừa và phát triển sáng tạo những giá trị tiến bộ của nhân loại

Kế thừa những giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn bằng việc viện dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp.

Người viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Việc viện dẫn những tư tưởng tiến bộ của hai cuộc cách mạng lớn trong lịch sử nhân loại thể hiện tầm nhìn rộng mở, tinh thần trân trọng những giá trị phổ quát và nghệ thuật lập luận đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người sử dụng chính những nguyên lý về tự do, bình đẳng và quyền con người đã được thế giới thừa nhận để khẳng định tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam.

Đặc biệt, từ quyền của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “suy rộng ra” thành quyền của các dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Đây là sự phát triển sáng tạo có ý nghĩa sâu sắc. Trong thực tiễn lịch sử thế giới lúc bấy giờ, khoảng cách giữa những nguyên lý tiến bộ được tuyên bố và việc hiện thực hóa các quyền đó còn rất lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng vấn đề quyền con người lên thành quyền của các dân tộc, qua đó khẳng định: quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc không thể tách rời quyền độc lập và quyền tự quyết của mỗi dân tộc.

2.2. Bản cáo trạng đanh thép đối với chủ nghĩa thực dân và cơ sở thực tiễn của quyền độc lập

Để khẳng định quyền độc lập của Việt Nam, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ dựa trên những nguyên lý phổ quát mà còn đưa ra một hệ thống sự thật lịch sử đầy sức thuyết phục, vạch trần bản chất của chế độ thực dân.

Trong hơn 80 năm thống trị Việt Nam, thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” để áp bức, bóc lột nhân dân ta. Tuyên ngôn chỉ rõ những chính sách phản động trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội: tước đoạt các quyền tự do dân chủ, thực hiện chính sách chia để trị, đàn áp những người yêu nước, bóc lột kinh tế, đặt ra nhiều thứ thuế vô lý và đầu độc nhân dân bằng rượu cồn, thuốc phiện.

Đặc biệt, trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, nhân dân Việt Nam phải chịu hai tầng áp bức của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Hậu quả hết sức nặng nề là nạn đói cuối năm 1944, đầu năm 1945 làm hơn hai triệu đồng bào từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ chết đói.

Tuyên ngôn đồng thời bác bỏ luận điệu cho rằng Pháp có quyền trở lại Đông Dương với danh nghĩa “bảo hộ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một sự thật lịch sử: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa... Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”.

Trái với chính sách đàn áp của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam và Mặt trận Việt Minh đã thể hiện tinh thần nhân đạo, khoan dung, giúp đỡ và bảo vệ nhiều người Pháp trong những thời điểm nguy hiểm.

Hệ thống lập luận đó tạo nên cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn vững chắc để khẳng định: nhân dân Việt Nam đã tự mình đứng lên giành lại độc lập và có đầy đủ quyền quyết định vận mệnh của dân tộc.

2.3. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân

Một giá trị đặc biệt sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc luôn gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Tinh thần đó không chỉ thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập mà còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” ngày 17/10/1945, Người nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Như vậy, giành được chủ quyền quốc gia là điều kiện đặc biệt quan trọng, nhưng giá trị thực chất của nền độc lập còn phải được thể hiện ở cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc và quyền làm chủ của nhân dân.

Tinh thần độc lập thực chất tiếp tục được Đảng ta khẳng định trong quá trình đấu tranh bảo vệ nền độc lập non trẻ. Năm 1947, trước những toan tính của thực dân Pháp nhằm áp đặt một hình thức “độc lập” không đầy đủ cho Việt Nam, Trung ương Đảng đã kiên quyết khẳng định yêu cầu về một nền độc lập thực sự, trong đó Việt Nam phải có Chính phủ, Quốc hội, Hiến pháp, quân đội, ngoại giao, tiền tệ và thuế quan riêng.

Nhìn rộng ra lịch sử thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho thấy, quá trình phi thực dân hóa không phải lúc nào cũng đồng nghĩa ngay với việc các quốc gia mới giành độc lập có được đầy đủ khả năng tự quyết trên tất cả các lĩnh vực. Tại một số khu vực, các mối quan hệ kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và tiền tệ hình thành từ thời thuộc địa còn tiếp tục tồn tại dưới những hình thức khác nhau.

Thực tiễn đó càng cho thấy ý nghĩa sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh: độc lập phải là độc lập thực chất; quyền tự quyết của dân tộc phải gắn với khả năng tự quyết định con đường phát triển của mình; và mục tiêu cuối cùng của độc lập là đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

2.4. Sức sống trường tồn và giá trị thời đại của Tuyên ngôn Độc lập trong kỷ nguyên mới

Trải qua 81 năm, những tư tưởng lớn của Tuyên ngôn Độc lập vẫn giữ nguyên giá trị.

Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc đặt ra ngày càng toàn diện hơn. Bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà còn gắn với bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa, tư tưởng, an ninh mạng; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tinh thần “lấy dân làm gốc” được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là một nguyên tắc quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải hướng đến phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, giá trị của Tuyên ngôn Độc lập còn thể hiện ở việc tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tinh thần ấy thống nhất sâu sắc với mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

III. KẾT LUẬN

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là một kiệt tác chính trị - pháp lý, kết tinh trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Lời tuyên bố thiêng liêng tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” không chỉ là lời tuyên bố khai sinh một Nhà nước mới mà còn trở thành lời khẳng định bất diệt về quyền độc lập, quyền tự quyết và ý chí bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam.

Tiếp nối tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

ThS. Huỳnh Thụy Minh Trí

Khoa Xây dựng Đảng


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Võ Xuân Vinh (2025), “Độc lập phải gắn liền với tự do - giá trị thời đại của Bản Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945”, tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia “Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Giá trị thời đại và sức sống trường tồn”.

4. Tô Lâm (2025), “Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới và những vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

 

 

Điểm tin

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hình_LD

    Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng làm việc với trường Chính trị

  • Bế giảng C17

    Lễ Bế giảng lớp Cao cấp Lý luận Chính trị C17 Lâm Đồng

  • DH ĐOAN TRUONG

    Đại hội Đoàn TNCSHCM trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027

  • HN CBCC 2022

    Hội nghị Công chức, Viên chức và Người lao động năm 2022

  • Bế giảng K36

    Lễ Bế giảng lớp Trung cấp LLCT-HC K36 hệ tập trung

  • DH Chi bo 1

    Đại hội Chi bộ 1 nhiệm kỳ 2022-2025 (Đại hội mẫu)

THỐNG KÊ TRUY CẬP
001857017
Đang truy cập : 23