Super User
LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài sự nghiệp đấu tranh giải phóng, cải tạo xã hội và cải tạo thiên nhiên của cả nhân loại. Hiểu theo nghĩa chung nhất, quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quổc tế.
C. Mác là nhà khoa học, nhà tư tưởng vĩ đại có những cống hiến to lớn, mang ý nghĩa bước ngoặt, có tính thời đại đối với sự phát triển của tư tưởng nhân loại, đặc biệt là về con người, giải phóng con người nói chung, quyền con người nói riêng. Từ sự kế thừa quan điểm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác đã góp phần khắc phục được khuynh hướng xem xét con người một cách trừu tượng. Khi nghiên cứu bản chất con người, C.Mác chỉ rõ: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” (1). Đây là cơ sở khoa học cốt lõi để xem xét, đánh giá vấn đề quyền con người. Ông cho rằng, về nguồn gốc, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội. Do đó, quyền con người không phải là sự ban phát của Thượng đế. Mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhung quyền con người không phải tự nhiên mà có. C.Mác đánh giá cao quan điểm của Hêghen: “Nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh ra trong lịch sử” (2). Nhưng lịch sử, theo C.Mác, là lịch sử hiện thực của con ngườt, do con người viết bằng hoạt động thực tiễn của mình. C. Mác cũng cho rằng, khi xem xét và giải quyết vấn đề quyền con người cần phải đặt vào những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định.
Học thuyết Mác đề cao con người và sự nghiệp giải phóng con người, nhấn mạnh quyền và tự do của con người không tách rời quyền và tự do của mỗi dân tộc. Quyền tự do của mỗi dân tộc, trước hết là quyền tự quyết dân tộc, là một bảo đảm vững chắc để có thể hiện thực hóa đầy đủ các quyền con người. C.Mác chỉ rõ, một dân tộc đi áp bức dân tộc khác thì chính dân tộc đó cũng không thể có tự do.
Quyền con người là một thành tựu của nhân loại, nhưng đó mới chỉ là một nấc thang của sự phát triển. Ph.Ăngghen viết: “Bình đẳng không chỉ còn hạn chế trong những quyền lợi chính trị, mà đã mở rộng ra đến cả địa vị xã hội của mỗi cá nhân; không những phải xóa bỏ đặc quyền giai cấp mà còn phải xóa bỏ ngay cả những sự khác biệt giai cấp” (3) .
C. Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, song các ông cũng chỉ ra những mặt hạn chế của xã hội tư bản trong việc bảo vệ quyền con người. C.Mác từng vạch rõ: “Sự việc sau đây cũng nói lên cái tính chất đặc thù tư sản của những quyền của con người ấy: hiến pháp của nước Mỹ, hiến pháp đầu tiên thừa nhận quyền của con người, đồng thời cũng lại chuẩn y luôn cả chế độ nô lệ của người da mầu đang tồn tại ở nước Mỹ; đặc quyền giai cấp bị cấm chỉ, đặc quyền chủng tộc được thần thánh hóa” (4).
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh, chỉ trong xã hội cộng sản mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng mới được giải quyết một cách trọn vẹn: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(5).
Trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, thành lực lượng áp bức, thống trị các dân tộc, V.I.Lênin kiên quyết ủng hộ quyền đấu tranh khẳng định quyền tự quyết dân tộc, cả về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế. Đóng góp nổi bật của V.I.Lênin đối với lý luận về quyền con người còn là tư tưởng về xây dựng chế độ dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động và con đường giành quyền tự quyết của các dân tộc. Nét đặc sắc, thể hiện tính hơn hẳn của các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là đã chuyển quyền con người từ lĩnh vực lý thuyết thành hiện thực. Ngay sau khi giành được chính quyền năm 1917, Nhà nước Nga Xôviết đã tôn trọng trên thực tế quyền tự quyết của các quốc gia dân tộc vốn là thuộc địa của nước Nga Sa Hoàng và kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới.
Trong tiến trinh xây dựng xã hội mới, V.I.Lênin đưa ra một trong những tiêu chí phân biệt nền dân chủ vô sản với các nền dân chủ trước đó: “Dân chủ vô sản là chế độ thống trị của đa số với thiểu số, vì lợi ích của đa số” (6). Ông cũng chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn. Từ nhận thức này, V.LLênin đề xuất và lãnh đạo tiến trinh hiện thực hóa quyền tham gia của nhân dân lao động trong quản lý nhà nước và xã hội; thực thi dân chủ trên thực tế ngay những ngày đầu thành lập chế độ mói ở nước Nga. Dưới chế độ Xôviết tại Nga, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương luôn được quan tâm, bảo vệ; quyền của phụ nữ, trẻ em được nâng niu, trân trọng bằng những chính sách và hoạt động cụ thể...
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và quyền con người là sự kết hợp giữa chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa với truyền thống yêu nước, thương nòi của dân tộc Việt Nam, giữa lý luận mác-xít và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Quan điểm trên được Người thể hiện bằng bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, ngay trong ngày khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…” (7 (Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945). Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới năm 1945, không chỉ nhằm công bố với thế giới về sự ra đời của một quốc gia độc lập, có chủ quyền mà còn là một bản tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam và khẳng định nhân dân Việt Nam quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng để bảo vệ giá trị thiêng liêng đó. Tuyên ngôn Độc lập và Cánh mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh phá tan hệ thống thuộc địa thế giới, thủ tiêu chủ nghĩa thực dân cũ giành độc lập dân tộc từ châu Á, châu Phi đến Mỹ La-tinh thời kỳ giữa thế kỷ XX. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 còn là một đóng góp lớn lao vào tư tưởng nhân quyền của nhân loại. Lần đầu tiên, các quyền tự do cá nhân được mở rộng thành quyền dân tộc, đó là độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết. Những đóng góp đó vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.
Kế thừa và phát huy giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống văn hoá dân tộc, quan điểm nhất quán và xuyên suốt về quyền con người của Đảng và Nhà nước ta là giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng và Nhà nước ta khẳng định, con người và quyền con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Mục tiêu của chúng ta là xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung vì mục tiêu hoà bình và tiến bộ xã hội của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Nội dung cơ bản đó là: 1- khẳng định quyền con người là thành quả và khát vọng chung của nhân loại; 2- Quyền con người thống nhất với quyền dân tộc cơ bản, nhân quyền không được cao hơn chủ quyền; 3- Giải quyết các vấn đề cụ thể về quyền con người phải kết hợp giữa tính phổ biến và tính đặc thù; 4- Quyền con người mang tính giai cấp; 5 - Quyền con người ở Việt Nam được thể hiện trong quyền và nghĩa vụ công dân, thực hiện quyền con người gắn liền với quá trình thực hiện dân chủ hoá xã hội; 6- Chúng ta chủ trương giải quyết vấn đề quyền con người bằng đối thoại hoà bình và mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và luận điệu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.Như vậy, học thuyết Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh chủ trương đấu tranh giành lại quyền con người trên thực tế cho tất cả mọi người, nhất là quyền con người của nhân dân lao động và các nhóm yếu thế trong xã hội; đặt cuộc đấu tranh vì quyền con người trong tiến trình giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là giải phóng Nhân dân khỏi áp bức bóc lột, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; bảo đảm xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chính vì vậy, cùng với quá trình đổi mới tư duy về kinh tế nhằm thúc đẩy và phát triển mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội thì vấn đề đổi mới tư duy về quyền con người cũng luôn được Đảng chú trọng quan tâm. Với tư cách là Đảng cầm quyền, thông qua Văn kiện, Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn… Đảng đã lãnh đạo một cách toàn diện nhằm bảo đảm các quyền của con người, bảo đảm mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đạt được nhiều thành tựu trong quá trình đổi mới tư duy trên lĩnh vực quyền con người, có nhiều kết quả về mặt thực tiễn, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Quá trình đổi mới, Đảng luôn chú trọng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đổi mới tư duy của Đảng, cùng với sự ghi nhận quyền con người với tư cách là một đối tượng tương đối độc lập với quyền công dân trong các văn kiện Đảng, các bản Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quyền con người ở Việt Nam.
Điều 50 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”và ghi nhận, bảo đảm quyền cơ bản của con người, như: bình đẳng trước pháp luật (Điều 16); quyền sống (Điều 19); bảo vệ đời tư và nơi ở (Điều 21, 22); tiếp cận thông tin (Điều 25); tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); bình đẳng giới (Điều 26); bỏ phiếu trưng cầu ý dân (Điều 29); tố tụng công bằng (Điều 31); sở hữu và sở hữu tư nhân (Điều 32); quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); lao động, việc làm (Điều 35); các quyền về văn hóa (Điều 41)…
Trên cơ sở sự ra đời của các bản Hiến pháp – cơ sở pháp lý đầu tiên của các đạo luật, Nhà nước đã cho ban hành và sửa đổi hơn 200 đạo luật nhằm bảo đảm quyền con người tiêu biểu như: Luật An ninh quốc gia năm 2004; Luật Bình đẳng giới năm 2006; Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật Phòng, chống mua bán người năm 2010; Luật Trẻ em năm 2016; Luật Thanh niên năm 2020; Luật căn cước năm 2023; Luật Khám, chữa bệnh năm 2023…
Quyền con người, đảm bảo quyền con người trong thời đại toàn cầu hoá đang có những diễn biến mới và rất phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì và có bước đi, giải pháp đúng đắn, vừa tập trung phát triển kinh tế - xã hội trong nước, nâng cao đời sống nhân dân, mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội vừa đẩy mạnh đấu tranh trên trường quốc tế. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải kiên trì nguyên tắc: nhân quyền không được cao hơn chủ quyền, nhân quyền không được phủ nhận chủ quyền.
Ths. Phạm Văn Dũng
Giảng viên: Khoa Lý luận cơ sở
Tài liệu tham khảo
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chỉnh trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.3, tr.ll.
(2)C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.2, tr.173.
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, tr.36.
GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm qua của dân tộc Việt Nam, đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Đại đoàn kết dân tộc đã tạo nên sức mạnh trong việc giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc xuyên suốt chiều dài lịch sử. Chân lý này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết như sau:“Muốn thắng lợi thì mỗi người phải dựa vào lực lượng của số đông người, tức là của tập thể, của xã hội. Riêng lẻ từng cá nhân thì nhất định không thắng nổi tự nhiên, không sống còn được. Để sống còn, loài người lại phải sản xuất mới có ăn, có mặc. Sản xuất cũng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội. Chỉ riêng lẻ cá nhân cũng không sản xuất được. Thời đại chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”.
Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng có ý nghĩa chiến lược cơ bản, nhất quán và xuyên suốt, là vấn đề sống còn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp”.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người thường xuyên nhắc nhở: “Phải tăng cường đoàn kết dân tộc. Đây là một công tác rất quan trọng, có nội dung mới và rộng hơn. Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ, các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số”.
Trải qua hơn 95 năm thực hiện xuyên suốt và nhất quán chiến lược đại đoàn kết dân tộc, nhất là 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với tình hình, yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng. Trong tiến trình ấy, trên tinh thần “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX xác định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam ... thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số…chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc”. Nghị quyết Đại hội XII đã xây dựng quan điểm: Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung... Chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc
Tỉnh Lâm Đồng được sắp xếp trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận và tỉnh Lâm Đồng cũ (tại Nghị quyết số 202/2025/QH15, ngày 16/6/2025 của Quốc Hội khóa XV). Sau khi sắp xếp, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là 24.233,07 km2 với 124 xã, phường, đặc khu, quy mô dân số là 3.872.999 người, với 49/54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có hơn 683.000 người là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh; có 312 cơ sở tín ngưỡng hợp pháp (10 cơ sở được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh), 24 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận với khoảng 1.571.000 tín đồ (chiếm khoảng 40,57% dân số toàn tỉnh), 3.500 chức sắc, 6.700 chức việc; 1.284 cơ sở tôn giáo hợp pháp; 04 cơ sở đào tạo tôn giáo. Điều này đã tạo nên bức tranh văn hóa, xã hội đa sắc màu, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng xác định, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc phải luôn được xem là nhiệm vụ và trách nhiệm thường xuyên của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân. Sau giải phóng cho đến nay, phát huy truyền thống “đoàn kết Kinh - Thượng”, Đảng bộ tỉnh bên cạnh việc quan tâm, làm tốt công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân; đẩy mạnh cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo thì công tác kết nghĩa với các buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là trọng điểm, thường xuyên. Kiên quyết ngăn chặn, không để kẻ xấu lợi dụng để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua đó, Nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn sát cánh cùng cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, giảm dần vùng đặc biệt khó khăn, xây dựng khối đại đoàn kết, đưa Lâm Đồng phát triển toàn diện.
Trong công tác giảm nghèo: Với phương châm “Đi từng ngõ, gõ từng nhà”, “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng được nâng cao. Trong các chương trình, chính sách được Trung ương triển khai, Chương trình 135 mang lại hiệu quả rõ rệt về cơ sở vật chất ở các bon, buôn dân tộc thiểu số. Chương trình 135 đã hỗ trợ giống vật nuôi, cây trồng, phân bón vật tư nông nghiệp, máy nông cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng các mô hình giảm nghèo. Từ các chương trình hỗ trợ, cùng với truyền thống lao động cần cù, ý chí vươn lên trong lao động sản xuất, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa, tiếp cận với tiến bộ khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, vươn lên làm giàu.
Kinh tế vùng dân tộc thiểu số của tỉnh Lâm Đồng rất đa dạng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ lực, song đã có bước chuyển mạnh từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Trên vùng cao nguyên, đồng bào dân tộc đẩy mạnh sản xuất rau, hoa, chè, cà phê, sầu riêng, bò sữa theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời phát triển trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản. Thu nhập bình quân đầu người vùng dân tộc thiểu số đạt khoảng 45–47 triệu đồng/năm. Một số khu vực có năng suất nông nghiệp cao hoặc gắn kết với du lịch, dịch vụ thì thu nhập vượt 80 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc đã giảm nhanh, bình quân từ 2–4% mỗi năm, đến nay còn khoảng 6–7%. Các chính sách hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, vốn vay ưu đãi, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công được triển khai đồng bộ đã góp phần giúp đồng bào ổn định đời sống. Nhiều xã thuần đồng bào đã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có xã đạt chuẩn nâng cao, minh chứng cho sự chuyển biến mạnh mẽ. Cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ, 100% thôn, bản, buôn có điện lưới quốc gia.
Năm 2025, Quỹ “Vì người nghèo” tỉnh đã tiếp nhận 73,014 tỷ đồng (trong đó ủng hộ xóa nhà tạm, nhà dột nát 35,56 tỷ đồng), cùng với nguồn tồn quỹ năm 2024 chuyển sang đã phân bổ 73.041 tỷ đồng (trong đó hơn 5,3 tỷ đồng để tặng 5,854 phần quà Tết cho các hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; 56 tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng và sửa chữa 1.070 căn nhà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; hỗ trợ sinh kế cho 70 hộ gia đình với tổng số tiền 700 triệu đồng; tặng quà cho 1.240 hộ nghèo nhân Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc với số tiền 1,240 tỷ đồng. Kết quả đã tiếp nhận hơn 180 tỷ đồng do các tập thể, cá nhân, cơ quan, đơn vị, trung ương, các tỉnh bạn và các tập đoàn, doanh nghiệp cùng toàn thể Nhân dân ủng hộ, tham mưu chuyển hỗ trợ 34 tỷ đồng cho 15 tỉnh, thành phố và hơn 30,5 tỷ đồng cho các xã, phường bị thiệt hại do mưa lũ trên địa bàn tỉnh
Thực hiện chính sách cán bộ người dân tộc thiểu số, trong những năm qua, chính sách phát triển nguồn nhân lực, tỉnh đã chú trọng công tác tạo nguồn, đưa vào quy hoạch và bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ là người DTTS. Đề án “Bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2018-2025” theo Quyết định số 771/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Không được bố trí kinh phí thực hiện; trong năm 2024, Đề án được lồng ghép trong tiểu dự án 2, Dự án 5 thuộc Chương trình MTQG DTTS&MN, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh đã tổ chức 02 lớp bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho nhóm đối tượng 3 và đối tượng 4 với 82 học viên tham dự. Năm 2025, tổ chức 6 lớp bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho 1.200 học viên.
Bên cạnh đó, công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc đạt được nhiều kết quả, nhất là văn hóa cồng chiêng. Nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc của đồng bào, ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc thiểu số được duy trì, tổ chức hằng năm ở khắp các địa phương đã trở thành nơi giao lưu, gặp gỡ, thắt chặt tình đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Đồng bào các dân tộc thiểu số luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn sát cánh cùng cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, chung sức, chung lòng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh.
Các lễ hội truyền thống của đồng bào như lễ hội Katê của người Chăm, lễ mừng lúa mới của người Cơ Ho, lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Chu Ru, Mạ được duy trì và phục dựng. Nhiều trò chơi dân gian, phong tục tập quán tốt đẹp được bảo tồn, trở thành điểm nhấn trong đời sống tinh thần. Đặc biệt, nghề gốm Chăm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại, góp phần khẳng định giá trị văn hóa độc đáo. Phong trào văn hóa – văn nghệ, thể dục – thể thao phát triển sâu rộng, trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ, gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào.
Về bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập giữ vị trí chiến lược quan trọng cả ở khu vực Tây Nguyên có địa bàn rộng, có biển, có biên giới quốc tế dài 141 km giáp Campuchia, lại có nhiều tuyến giao thông huyết mạch đi qua, khiến tình hình an ninh – quốc phòng nơi đây vừa có những thuận lợi, vừa tiềm ẩn nhiều thách thức. Tỉnh đã chú trọng củng cố lực lượng vũ trang ở cơ sở, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, có chất lượng chính trị tốt, gắn bó mật thiết với đồng bào dân tộc. Công tác huấn luyện, diễn tập, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh được tổ chức thường xuyên, nhất là cho đội ngũ cán bộ chủ chốt và người có uy tín trong cộng đồng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phong trào xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự. Kiên quyết đấu tranh, bài trừ các đối tượng cực đoan lợi dụng niềm tin tôn giáo để tuyên truyền trái pháp luật, đòi “tự trị”, “ly khai”, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Nhờ sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng công an, quân sự và các tổ chức đoàn thể, những âm mưu, hoạt động này đều được phát hiện, ngăn chặn kịp thời.
Từ thực tế trên, việc tiếp tục xác định đúng tầm quan trọng của công tác dân tộc và vấn đề đoàn kết dân tộc trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong hiện tại cũng như lâu dài là điều hết sức cần thiết. Để thực hiện được mục tiêu đó, trong thời gian tới cần thực hiện triệt để một số vấn đề sau:
Một là, tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền về xây dựng khối đại đoàn kết, về chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm phát huy vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân gắn với thực hiện tốt trách nhiệm của công dân, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí
Hai là, các cấp ủy cần tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các chuyên đề về nội dung “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức
Ba là, tập trung phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Bên cạnh đó, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc phải luôn được xem là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân. Tăng trưởng kinh tế phải gắn với bảo đảm công bằng xã hội, đoàn kết dân tộc, phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
Bốn là, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong tỉnh tham gia xây dựng và hoàn thiện một số chính sách để củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Năm là, đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, tổ chức động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hoá - xã hội; trong đó, mỗi người, mỗi gia đình cố gắng phấn đấu làm giàu cho mình, cho cộng đồng. Thông qua đó, đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh có thêm điều kiện, cơ hội phát huy nội lực để khai thác tiềm năng, thế mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm phát triển bền vững, qua đó tạo động lực, thúc đẩy Lâm Đồng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
ThS. Lương Văn Quỳnh
Phó trưởng Khoa Xây dựng Đảng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, Tập 9
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, Tập 10
3. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2003
4. Báo cáo Sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Sở Dân tộc và Tôn giáo Lâm Đồng





