XÂY DỰNG LÂM ĐỒNG TRỞ THÀNH KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ NĂNG ĐỘNG, HIỆN ĐẠI, HỘI NHẬP - TỪ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT MỚI
Tóm tắt: Tỉnh Lâm Đồng mới có không gian phát triển rộng, đa dạng và bổ trợ giữa cao nguyên, trung du, ven biển. Đây là điều kiện để phát huy lợi thế nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, du lịch, kinh tế biển và logistics. Tuy nhiên, quy mô không gian mới chỉ trở thành lợi thế khi chuyển hóa thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thông qua khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao. Bài viết phân tích kết quả, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất năm nhóm giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất mới, xây dựng Lâm Đồng năng động, hiện đại, xanh và hội nhập.
Từ khóa: tỉnh Lâm Đồng; không gian phát triển; lực lượng sản xuất mới; chuyển đổi số.
I. Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế hiện đại, đất đai, tài nguyên và lao động giá rẻ không còn là lợi thế tăng trưởng nhanh, bền vững. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi lực lượng sản xuất; khoa học, công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học và nhân lực chất lượng cao ngày càng trực tiếp tạo ra năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng. Vì vậy, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình phát triển hiện nay của Việt Nam.
Đối với tỉnh Lâm Đồng, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi tỉnh có không gian rộng lớn, kết nối các khu vực có lợi thế kinh tế khác nhau. Cao nguyên có thế mạnh về nông nghiệp công nghệ cao, du lịch, lâm nghiệp và kinh tế sinh thái; ven biển có lợi thế về kinh tế biển, thủy sản, du lịch, năng lượng và logistics. Sự bổ trợ giữa các khu vực tạo điều kiện hình thành cấu trúc kinh tế đa dạng. Tuy nhiên, mở rộng địa giới không tự động tạo nên không gian kinh tế thống nhất. Tỉnh cần tổ chức lại nguồn lực, kết nối hạ tầng, liên kết sản xuất - chế biến - logistics - thị trường và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ.
II. Thực trạng phát triển kinh tế và lực lượng sản xuất mới ở Lâm Đồng
1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, kinh tế duy trì đà tăng trưởng, tạo nền tảng cho động lực mới. Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP quý II ước tăng 9,22%, tính chung sáu tháng tăng 7,90%; thu ngân sách nhà nước đạt 18.623,9 tỷ đồng, bằng 54,08% dự toán năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ 1. Kết quả trên phản ánh đóng góp của nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch, tạo cơ sở tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo năng suất và giá trị gia tăng.
Thứ hai, nông nghiệp là nền tảng quan trọng của lực lượng sản xuất mới. Toàn tỉnh có khoảng 109.500 ha sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, trong đó khoảng 1.400 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh; diện tích gieo trồng hơn 914 nghìn ha2. Cảm biến, tự động hóa, IoT, nền tảng số và công nghệ sinh học đang từng bước được ứng dụng. Tuy vậy, diện tích nông nghiệp thông minh còn nhỏ so với quy mô nông nghiệp công nghệ cao, cho thấy việc chuyển sang quản trị bằng dữ liệu còn nhiều dư địa.
Thứ ba, công nghiệp chuyển biến tích cực. Sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,7%, có 16/18 sản phẩm chủ lực tăng; giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 9,46%3. Đây là cơ sở thúc đẩy chế biến sâu nông – lâm – thủy sản, công nghiệp hỗ trợ và các ngành có hàm lượng công nghệ cao hơn.
Thứ tư, dịch vụ và du lịch là động lực tăng trưởng. Sáu tháng đầu năm, tỉnh đón gần 12 triệu lượt khách, tăng 18,08%, trong đó khách quốc tế khoảng 825 nghìn lượt; doanh thu du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15%; doanh thu vận tải, kho bãi đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% 4. Không gian du lịch cao nguyên - biển - sinh thái - nông nghiệp tạo cơ hội mở rộng chuỗi dịch vụ, vận tải, lưu trú, thương mại và logistics.
Thứ năm, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số bước đầu tham gia trực tiếp vào phát triển. Tỉnh vận hành Cổng thông tin kết nối cung – cầu công nghệ; có 17 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 13 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; tỷ trọng kinh tế số ước đạt 7,45% GRDP5. Đây là dấu hiệu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số từng bước trở thành bộ phận của quá trình phát triển kinh tế.
2. Những hạn chế, điểm nghẽn
Tăng trưởng chưa tương xứng với yêu cầu và tiềm năng không gian mới. GRDP sáu tháng tăng 7,90%, trong khi tỉnh đặt mục tiêu cao hơn cho cả năm; giải ngân đầu tư công, triển khai dự án và tháo gỡ khó khăn cho dự án ngoài ngân sách vẫn cần tập trung xử lý 1. Khả năng chuyển vốn đầu tư thành năng lực sản xuất còn chậm; một số dự án chậm triển khai làm giảm khả năng chuyển lợi thế không gian thành tăng trưởng. Giá trị gia tăng và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị còn thấp. Sáu tháng đầu năm, xuất khẩu giảm 2,66%; alumin và hydroxit nhôm giảm 33,3%, thủy sản giảm 25,1%, cao su giảm 10,1%3. Điều này cho thấy quy mô sản xuất chưa đồng nghĩa giá trị gia tăng cao; chế biến sâu, thương hiệu, logistics và phân phối cần được nâng lên. Nông nghiệp thông minh còn ở giai đoạn đầu, thể hiện qua chênh lệch giữa 109.500 ha công nghệ cao và khoảng 1.400 ha thông minh 2. Ngoài ra, liên kết giữa các không gian kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng; giao thông, kho lạnh, trung tâm phân phối, hạ tầng số và chuỗi cung ứng cần được kết nối hiệu quả hơn.
3. Nguyên nhân
Kết quả đạt được bắt nguồn từ nền tảng kinh tế tích lũy và lợi thế bổ trợ giữa nông nghiệp công nghệ cao, du lịch ở cao nguyên; kinh tế biển, du lịch, năng lượng ven biển; khoáng sản, năng lượng và nông nghiệp ở khu vực Đắk Nông trước đây. Cùng với đó, sự quan tâm của chính quyền địa phương về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, hạ tầng và môi trường đầu tư đã tạo động lực mới cho doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, tổ chức không gian quy mô lớn cần thời gian đồng bộ quy hoạch, hạ tầng, cơ chế quản lý và phân bổ nguồn lực. Một số dự án chậm; năng lực hấp thụ công nghệ không đồng đều; doanh nghiệp phần lớn vừa và nhỏ, hạn chế nguồn lực nghiên cứu, phát triển. Liên kết sản xuất – chế biến – logistics – thị trường chưa chặt chẽ…, là những điểm nghẽn cần tháo gỡ.
III. Giải pháp phát triển lực lượng sản xuất mới ở tỉnh Lâm Đồng
Thứ nhất, đổi mới tư duy quản trị và hoàn thiện thể chế.
Chuyển từ quản lý theo địa giới sang quản trị theo không gian kinh tế, hành lang phát triển và chuỗi giá trị; phân bổ nguồn lực theo lợi thế và tính bổ trợ giữa các khu vực. Tỉnh cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng; phân cấp, phân quyền gắn kiểm tra, giám sát và trách nhiệm người đứng đầu. Ngoài ra, cần chú trọng thu hút dự án có chất lượng về công nghệ, năng suất, giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ, môi trường và liên kết doanh nghiệp địa phương; coi doanh nghiệp là chủ thể đổi mới công nghệ, phù hợp Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Thứ hai, phát triển hạ tầng và kết nối cao nguyên - trung du - ven biển.
Ưu tiên kết nối vùng sản xuất với khu, cụm công nghiệp, đô thị, sân bay, cảng biển và đầu mối logistics. Phát triển logistics nông sản, kho lạnh, trung tâm phân phối để giảm chi phí bảo quản, rút ngắn thời gian đưa hàng hóa ra thị trường. Đồng thời, nâng cấp hạ tầng số, dữ liệu và viễn thông, giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tiếp cận thị trường, công nghệ và dịch vụ công thuận lợi.
Thứ ba, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực trực tiếp.
Tỉnh cần xác định bài toán công nghệ của từng ngành để đặt hàng nghiên cứu, ứng dụng. Nông nghiệp cần chuyển sang quản trị bằng dữ liệu đất, thời tiết, nước, sâu bệnh, thị trường và truy xuất nguồn gốc; công nghiệp thúc đẩy tự động hóa, sản xuất thông minh, quản trị năng lượng và chất lượng; du lịch phát triển hệ sinh thái số, quản trị điểm đến; logistics ứng dụng nền tảng số tối ưu vận tải, kho bãi, chuỗi cung ứng. Ngoài ra, tỉnh cần phát huy Cổng kết nối cung - cầu công nghệ, liên kết doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu; hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và làm chủ AI, dữ liệu lớn, robot, tự động hóa, công nghệ sinh học.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đào tạo cần bám vào nhu cầu nền kinh tế, tập trung AI, dữ liệu, tự động hóa, công nghệ sinh học, nông nghiệp số, chế biến, logistics, quản trị du lịch và kinh tế số. Tăng liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp; để doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, đặt hàng nhân lực và tiếp nhận thực tập. Đồng thời, có chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo lại lao động nhằm thích ứng công nghệ mới.
Thứ năm, tái cấu trúc ngành kinh tế theo chuỗi giá trị, phát huy lợi thế bổ trợ.
Nông nghiệp chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và kiểm soát chuỗi; tổ chức sản phẩm cà phê, rau, hoa, sầu riêng, thanh long, thủy sản, chăn nuôi, lâm sản theo chuỗi vùng nguyên liệu - chế biến - logistics - thị trường. Công nghiệp ưu tiên chế biến nông - lâm - thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng và ngành có giá trị gia tăng cao. Du lịch liên kết cao nguyên - ven biển, kết hợp sinh thái, nông nghiệp, văn hóa, nghỉ dưỡng và biển. Kinh tế biển phát triển đồng bộ thủy sản, hậu cần nghề cá, logistics, du lịch và năng lượng; qua đó biến khác biệt địa hình thành lợi thế bổ trợ trong một chỉnh thể kinh tế thống nhất.
IV. Kết luận
Tỉnh Lâm Đồng mới có không gian phát triển rộng lớn, tạo điều kiện phát huy lợi thế cao nguyên, trung du và ven biển. Tuy nhiên, quy mô nguồn lực chỉ trở thành lợi thế cạnh tranh khi được chuyển hóa thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực đổi mới sáng tạo. Phát triển lực lượng sản xuất mới cần là trục xuyên suốt, với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực then chốt. Đồng thời, tăng cường liên kết ba không gian, gắn sản xuất với chế biến, logistics, thị trường và du lịch sẽ tạo nền tảng để Lâm Đồng phát triển năng động, xanh, hiện đại và bền vững./.
ThS. Hoàng Thị Như Quỳnh
Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở
Tài liệu tham khảo
1. Thống kê tỉnh Lâm Đồng (2026), Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng, công bố ngày 03/7/2026.
2. Báo Lâm Đồng (2026), Lâm Đồng họp báo thông tin tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026; số liệu về diện tích nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp thông min h.
3. Báo Lâm Đồng (2026), Tổng quan kinh tế - xã hội Lâm Đồng 6 tháng đầu năm 2026; số liệu về công nghiệp, xuất nhập khẩu và các sản phẩm chủ lực.
4. Báo Lâm Đồng (2026), Lâm Đồng đón gần 12 triệu lượt khách trong 6 tháng đầu năm 2026, ngày 17/6/2026.
5.Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; và thông tin của tỉnh Lâm Đồng về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.
1 Thống kê tỉnh Lâm Đồng (2026), Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng, công bố ngày 03/7/2026.
2 Báo Lâm Đồng (2026), Lâm Đồng họp báo thông tin tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026; số liệu về diện tích nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp thông minh.
3 Báo Lâm Đồng (2026), Tổng quan kinh tế - xã hội Lâm Đồng 6 tháng đầu năm 2026; số liệu về công nghiệp, xuất nhập khẩu và các sản phẩm chủ lực.
4 Báo Lâm Đồng (2026), Lâm Đồng đón gần 12 triệu lượt khách trong 6 tháng đầu năm 2026, ngày 17/6/2026.
5 Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; và thông tin của tỉnh Lâm Đồng về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.






