PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC LÂM ĐỒNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI: TỪ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỦA TỈNH
Tóm tắt: Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Trung ương và địa phương về công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực, bài viết khái quát quá trình lãnh đạo và những kết quả chủ yếu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của tỉnh; đồng thời làm rõ những quan điểm, mục tiêu và nội dung trọng tâm cần quán triệt, triển khai trong thời gian tới. Qua đó góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò của đào tạo, bồi dưỡng trong xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn mới.
Từ khóa: nguồn nhân lực; đào tạo, bồi dưỡng; tỉnh Lâm Đồng.
1. Đặt vấn đề
Ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, xác định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn giáo dục và đào tạo với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhu cầu phát triển của đất nước.
Đối với tỉnh Lâm Đồng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực từ năm 2020 đến nay, ngày 25/8/2026, Tỉnh ủy ban hành Báo cáo số 366-BC/TU và Nghị quyết số 19-NQ/TU về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030, định hướng đến năm 2035. Đây là cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức và định hướng công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong giai đoạn mới.
2. Từ chủ trương của Trung ương đến chính sách của tỉnh
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị tạo ra định hướng lớn về đổi mới giáo dục và đào tạo, trong đó phát triển con người và nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học; chú trọng khả năng thích ứng, sáng tạo và học tập suốt đời.
Một nội dung có ý nghĩa quan trọng là yêu cầu gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực. Cơ sở đào tạo không chỉ cung cấp kiến thức mà phải hướng tới hình thành năng lực thực tế, đáp ứng yêu cầu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và thị trường lao động. Đồng thời, chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo từng bước trở thành những thành tố quan trọng của quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Trong giai đoạn trước khi thực hiện sắp xếp, sáp nhập địa giới hành chính, các địa phương Lâm Đồng, Bình Thuận và Đắk Nông đã ban hành và triển khai nhiều chính sách liên quan đến đào tạo, thu hút và phát triển nhân lực phù hợp với điều kiện từng địa phương. Lâm Đồng có Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 25/7/2022 và Nghị quyết số 263/2023/NQ-HĐND ngày 08/12/2023; Bình Thuận tập trung một số chính sách phát triển nhân lực y tế thông qua các Nghị quyết số 12/2023/NQ-HĐND ngày 10/10/2023, Nghị quyết số 13/2023/NQ-HĐND ngày 10/10/2023, Nghị quyết số 16/2023/NQ-HĐND ngày 10/10/2023; Đắk Nông có Nghị quyết số 08/2024/NQ-HĐND ngày 24/7/2024 về lĩnh vực y tế[1].
Sau khi sáp nhập, yêu cầu đặt ra là phải thống nhất nhận thức, chính sách và phương thức tổ chức thực hiện trong phạm vi tỉnh mới. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng đã chỉ đạo rà soát, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trong tình hình mới; trong đó chú trọng đội ngũ công chức xã, phường, đặc khu. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Nghị quyết số 19-NQ/TU được ban hành, tạo cơ sở thống nhất để triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực trên phạm vi toàn tỉnh.
Như vậy, có thể thấy quá trình hình thành chính sách về nguồn nhân lực của Lâm Đồng được thực hiện theo hướng kế thừa những kết quả của ba địa phương trước sáp nhập, đồng thời điều chỉnh và thống nhất để đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh hiện nay.
- Những kết quả chủ yếu trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực
Thực tiễn từ năm 2020 đến nay cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận:
Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, toàn tỉnh hiện có 65.978 người (cấp tỉnh: 16.456, cấp xã: 49.522). Đội ngũ CBCCVC có 53.345 người đạt trình độ đại học; 3.791 người có trình độ thạc sĩ; 40 người có trình độ tiến sĩ; 1.606 người có trình độ cao cấp lý luận chính trị. CBCCVC dưới 42 tuổi có 25.766 người, chiếm 39,1%; CBCCVC nữ có 43.612 người, chiếm 66,1%[2]. Những con số này cho thấy đội ngũ CBCCVC làm việc trong cơ quan nhà nước đã từng bước được đào tạo, chuẩn hóa và trẻ hóa.
Đối với lực lượng lao động toàn xã hội, đến tháng 5/2026, toàn tỉnh có khoảng 1.895.075 lao động, tăng 52.074 người so với năm 2021. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ tăng dần qua từng năm, tính đến tháng 5/2026 đạt 21,48%, tăng 2,87% so với năm 2021; tỉ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động chỉ khoảng 1,74%, giảm 0,31%[3]. Đây là những kết quả quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh.
Trong lĩnh vực y tế, các chính sách được ban hành tại ba địa phương trước sáp nhập đã tạo những kết quả nhất định: Lâm Đồng (cũ) hỗ trợ đào tạo 25 bác sĩ chuyên khoa; Bình Thuận (cũ) thực hiện chính sách đãi ngộ đối với 127 bác sĩ và cử 69 viên chức đào tạo sau đại học; Đắk Nông (cũ) thu hút 21 bác sĩ và thực hiện chính sách đãi ngộ đối với 509 bác sĩ. Tổng kinh phí thực hiện các chính sách về y tế của ba địa phương đạt trên 35 tỷ đồng[4].
Một điểm nổi bật trong giai đoạn vừa qua là đào tạo, phát triển kỹ năng số. Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai tại 124 xã, phường, đặc khu; toàn tỉnh kiện toàn 2.765 Tổ công nghệ số cộng đồng với 16.880 thành viên. 100% CBCCVC được tập huấn kỹ năng số cơ bản; ngành Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 40.793 người và phổ cập kỹ năng số cho 702.221 học sinh, sinh viên. Đặc biệt, đào tạo về trí tuệ nhân tạo đã được quan tâm. Riêng năm 2025, tỉnh tổ chức đào tạo AI cho cho 276 cán bộ lãnh đạo, hơn 6.200 cán bộ, công chức, trên 400 doanh nghiệp và gần 4.100 cán bộ, đảng viên; năm 2026 tiếp tục tổ chức 03 lớp đào tạo AI cho khoảng 1.240 cán bộ, công chức, viên chức cấp xã. Kinh phí ngân sách bố trí cho đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC giai đoạn 2020-2025 đạt 190.949 triệu đồng[5].
Những kết quả trên tạo nền tảng quan trọng để tỉnh tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chú trọng năng lực thực hiện nhiệm vụ và khả năng thích ứng với yêu cầu mới, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số.
4. Những nội dung trọng tâm trong triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Lâm Đồng
Trên nền tảng định hướng của Nghị quyết số 71-NQ/TW và thực tiễn nguồn nhân lực của tỉnh, Tỉnh ủy Lâm Đồng ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TU, trong đó xác định những nội dung trọng tâm cần được quán triệt và tổ chức thực hiện trong giai đoạn tới, cụ thể:
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với yêu cầu phát triển của tỉnh. Nghị quyết định hướng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ những lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với kinh tế - xã hội của Lâm Đồng như nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, thương mại, dịch vụ, du lịch, kinh tế số và các lĩnh vực khoa học, công nghệ.
Thứ hai, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tỉnh xác định nhu cầu phát triển nhân lực chất lượng cao trong khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế và các ngành kinh tế có lợi thế. Điều này đòi hỏi công tác đào tạo phải có trọng tâm, trọng điểm, gắn với nhu cầu thực tế và khả năng phát triển dài hạn của tỉnh.
Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Việc đào tạo, bồi dưỡng cần gắn với vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ; chú trọng các năng lực quản lý, điều hành, chuyển đổi số, khoa học, công nghệ, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với môi trường làm việc mới. Đặc biệt, trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã có ý nghĩa thiết thực.
Thứ tư, ưu tiên nguồn nhân lực trong các lĩnh vực giáo dục và y tế. Nghị quyết đặt ra yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; đồng thời chú trọng đào tạo, thu hút và phát triển đội ngũ y tế, nhất là nhân lực chuyên môn sâu và nhân lực ở những địa bàn còn khó khăn.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực gắn với đặc điểm và lợi thế của tỉnh sau sáp nhập. Không gian phát triển mới của Lâm Đồng tạo ra yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực đa dạng hơn, từ nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế rừng, công nghiệp chế biến, năng lượng, kinh tế biển đến du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và các ngành dịch vụ. Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực cần được đặt trong tổng thể quy hoạch và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Thứ sáu, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo, bồi dưỡng. Kết quả triển khai “Bình dân học vụ số” và đào tạo AI thời gian qua là nền tảng quan trọng để tiếp tục đổi mới phương thức đào tạo. Tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các phương thức giáo dục hiện đại.
Thứ bảy, gắn đào tạo với sử dụng và phát triển nghề nghiệp. Đào tạo, bồi dưỡng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người học được bố trí, sử dụng phù hợp và có điều kiện vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Vì vậy, một yêu cầu quan trọng trong triển khai chính sách là tăng cường mối liên hệ giữa nhu cầu đào tạo, vị trí việc làm và sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo.
5. Một số chỉ tiêu chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực đến năm 2030, định hướng đến năm 2035
Để cụ thể hóa các định hướng chiến lược, Nghị quyết số 19-NQ/TU xác định hệ thống chỉ tiêu toàn diện, tập trung vào các nhóm lĩnh vực trọng tâm và các đối tượng cán bộ chủ chốt sau[6]:
Thứ nhất, các chỉ tiêu phát triển nhân lực theo ngành, lĩnh vực trọng tâm:
- Về khoa học, công nghệ và kinh tế số:
+ Đến 2030: đạt 12 người làm nghiên cứu khoa học, đổi mới, sáng tạo/1 vạn dân; ưu tiên nhân lực chất lượng cao về AI, Big Data, IoT.
+ Đến 2035: Nâng lên 20 người/1 vạn dân; hình thành đội ngũ chuyên gia giỏi trong chế biến nông sản, năng lượng tái tạo, logistics thông minh.
- Về y tế, giáo dục:
+ Tăng từ 7,5 lên 11 bác sĩ/10.000 dân (cần bổ sung hơn 1.572 bác sĩ); duy trì và thực hiện hiệu quả các chương trình định hướng đến 2035.
+ Giáo dục: 100% giáo viên các cấp đạt chuẩn; tỉ lệ giáo viên đạt trình độ thạc sĩ tăng dần theo từng cấp học (THPT đạt trên 11% vào năm 2030 và trên 13% vào năm 2035).
- Về lực lượng lao động và doanh nghiệp:
+ Lực lượng lao động: tỉ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2030 đạt 89%, 35-40% có bằng cấp, chứng chỉ; đến năm 2035 lần lượt đạt trên 95%, trên 60% có bằng cấp, chứng chỉ.
+ Doanh nghiệp: Khoảng 33.000 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, hiệu quả vào năm 2030; 100% doanh nghiệp chuyển đổi số toàn diện vào năm 2035.
Thứ hai, các chỉ tiêu về xây dựng đội ngũ CBCCVC
- Về chất lượng chung: 100% CBCCVC được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm, cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh có 25-35% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
- Cán bộ cấp xã: 100% cán bộ chủ chốt sử dụng thành thạo nền tảng điều hành trực tuyến, 10-15% có trình độ khoa học, công nghệ.
- Cơ cấu cán bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số: Bảo đảm tỉ lệ cơ cấu hợp lý trong quy hoạch cấp ủy và các chức danh lãnh đạo các cấp (cấp tỉnh và cấp xã từ 15% trở lên đối với cán bộ trẻ, nữ, DTTS); 100% cán bộ thuộc diện này ở cấp tỉnh và 90% ở cấp xã được đào tạo chuyên môn, lý luận chính trị, kỹ năng quản lý, công nghệ thông tin, chuyển đổi số.
Như vậy, các chỉ tiêu của Nghị quyết số 19-NQ/TU không chỉ tập trung vào nâng cao trình độ chuyên môn mà còn hướng tới phát triển nguồn nhân lực theo từng lĩnh vực, từng nhóm đối tượng và từng yêu cầu cụ thể của quá trình phát triển.
6. Kết luận
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập những định hướng lớn về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó phát triển con người và nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 19-NQ/TU của Tỉnh ủy Lâm Đồng đã cụ thể hóa phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh, xác định mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.
Mỗi cơ quan, đơn vị, cơ sở đào tạo và mỗi người học đều có vai trò trong quá trình này. Khi chính sách được hiểu đúng, triển khai đúng và chuyển hóa thành năng lực thực tế của đội ngũ, công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn trở thành một động lực quan trọng của đổi mới quản trị và phát triển tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.
ThS. Lục Minh Thư
Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Tỉnh ủy Lâm Đồng (2026), Báo cáo số 366-BC/TU ngày 25/8/2026 về tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng từ năm 2020 đến nay.
3. Tỉnh ủy Lâm Đồng (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 25/8/2026 về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.
[1] Báo cáo số 366-BC/TU ngày 25/8/2026 về tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng từ năm 2020 đến nay.
2,3,4 Báo cáo số 366-BC/TU ngày 25/8/2026 về tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng từ năm 2020 đến nay.
[5] Báo cáo số 366-BC/TU ngày 25/8/2026 về tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng từ năm 2020 đến nay.
[6] Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 25/8/2026 về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.





