Super User
BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ TRÊN MẠNG XÃ HỘI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
Với 68,17 triệu người dùng (chiếm 70% dân số) và khoảng 94% người dùng Việt Nam sử dụng Internet thường xuyên với thời gian sử dụng trung bình lên tới 6 tiếng mỗi ngày, thì việc ban hành và áp dụng Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội của Bộ Thông tin và truyền thông là việc làm hết sức cần thiết nhằm hướng đến xây dựng được chuẩn mực đạo đức về hành vi ứng xử trên mạng xã hội, cũng như giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước hiện nay.
Việt Nam được đánh giá là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với 68,17 triệu người dùng (chiếm 70% dân số). Trong đó có khoảng 94% người dùng Việt Nam sử dụng Internet thường xuyên với thời gian sử dụng trung bình lên tới 6 tiếng mỗi ngày (theo baochinhphu.vn ngày 16/12/2020), nhiều nhất là nhóm lứa tuổi từ 15 - 40 tuổi và chủ yếu là học sinh, sinh viên và người lao động. Mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, trở thành một phần không thể thiếu trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Khó có thể phủ nhận những vai trò to lớn do mạng xã hội mang lại như giúp kết nối cộng đồng, thay đổi phương thức quản trị và điều hành quốc gia, doanh nghiệp, hỗ trợ tích cực cho hội nhập quốc tế về kinh tế và văn hóa ... Song bên cạnh đó cũng tồn tại không ít những mặt tiêu cực đến từ mạng xã hội mà phần lớn do những hành vi ứng xử của người dùng mạng xã hội góp phần tạo ra.
Tính đến nay, đã có nhiều quy định có liên quan đến chuẩn mực sử dụng mạng xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước như: Tại khoản 2 Điều 8 của Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV ngày 26/02/2007 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương nêu rõ: “Trong giao tiếp tại công sở và với công dân, cán bộ, công chức, viên chức phải có thái độ lịch sự, hoà nhã, văn minh. Khi giao dịch trực tiếp, hoặc bằng văn bản hành chính hoặc qua các phương tiện thông tin (điện thoại, thư tín, qua mạng...) phải bảo đảm thông tin trao đổi đúng nội dung công việc mà cơ quan, đơn vị, tổ chức và công dân cần hướng dẫn, trả lời”. Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ khi đề cập đến Chuẩn mực về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức đã ghi rõ: “Cán bộ, công chức, viên chức phải tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng mạng xã hội để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ”, và các Quyết định Ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức của các cấp bộ, ngành, địa phương cũng đã cụ thể hóa vấn đề này.
Tuy nhiên, thực tế trên mạng xã hội vẫn còn xảy ra những hành vi phản cảm như phát tán các clip vô bổ, đánh chửi nhau, những hình ảnh tai nạn gây ám ảnh người xem. Một bộ phận lên mạng viết status, bình luận vô trách nhiệm mang tính cáo buộc, xúc phạm cá nhân và các tổ chức. Hay không khó bắt gặp những danh xưng giang hồ mạng, thánh chửi trên mạng xã hội. Và gần đây, khi livestream trở nên phổ biến thì đã xuất hiện nhiều hiện tượng livestream bán hàng với những thông tin sai lệch về sản phẩm, nhiều youtuber sẵn sàng livestream từ các hiện trường án mạng, tai nạn thảm khốc hay thậm chí cả chi tiết đám tang của những người nổi tiếng nhằm câu live, câu view một cách phản cảm, trái với thuần phong mỹ tục của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, không ít các trường hợp đưa tin bịa đặt, chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng hay vô tình nhấp like, share vào những đường link, trang web độc hại, những bài viết xuyên tạc bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, trái với chủ trương, chính sách của Nhà nước, xuyên tạc bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và nguyện vọng chính đáng của nhân dân từ các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị có âm mưu lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc nhằm chống phá Việt Nam.
Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và truyền thông có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Bộ quy tắc gồm 9 điều, nhằm mục đích: “Tạo điều kiện phát triển lành mạnh mạng xã hội tại Việt Nam, đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh, không phân biệt đối xử nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia; Xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi, ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội, góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam”. Trong đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước được xem như là thành phần đi đầu trong việc nêu gương ứng xử trên mạng xã hội. Cụ thể, Bộ quy tắc quy định những điều cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước cần làm khi tham gia dùng mạng xã hội bao gồm:
1. Tìm hiểu và tuân thủ các điều khoản hướng dẫn sử dụng của nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội trước khi đăng ký, tham gia mạng xã hội.
2. Nên sử dụng họ, tên thật cá nhân, tên hiệu thật của tổ chức, cơ quan và đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ để xác thực tên hiệu, địa chỉ trang mạng, đầu mối liên lạc khi tham gia, sử dụng mạng xã hội.
3. Thực hiện biện pháp tự quản lý, bảo mật tài khoản mạng xã hội và nhanh chóng thông báo tới các cơ quan chức năng, nhà cung cấp dịch vụ khi tài khoản tổ chức, cá nhân bị mất quyền kiểm soát, bị giả mạo, lợi dụng và sử dụng vào mục đích không lành mạnh, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
4. Chia sẻ những thông tin có nguồn chính thống, đáng tin cậy.
5. Có các hành vi, ứng xử phù hợp với những giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt Nam; không sử dụng từ ngữ gây thù hận, kích động bạo lực, phân biệt vùng miền, giới tính, tôn giáo.
6. Không đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, các thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mĩ tục; tung tin giả, tin sai sự thật; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép... gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
7. Khuyến khích sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, quảng bá về đất nước - con người, văn hóa tốt đẹp của Việt Nam, chia sẻ thông tin tích cực, những tấm gương người tốt, việc tốt.
8. Vận động người thân trong gia đình, bạn bè, những người xung quanh tham gia giáo dục, bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội một cách an toàn, lành mạnh.
Để bộ quy tắc không chỉ dừng lại ở tính hướng dẫn, giúp điều chỉnh hành vi của công dân để tránh các hành vi vi phạm pháp luật, mà phải thật sự giúp thay đổi thói quen sử dụng, hành xử của mọi người trên mạng xã hội ngày càng có văn hóa, văn minh và chuẩn mực, có vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước hiện nay. Để phát huy hiệu quả và đưa Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội đi vào cuộc sống, đối với các cấp bộ, ngành, địa phương cần cụ thể hóa thành văn bản quy định thực hiện Bộ quy tắc này, thì mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động chúng ta ngoài việc thực hiện nghiêm túc Bộ quy tắc cần phải:
- Phải thực sự có trách nhiệm mỗi khi nhấp chuột để đăng bài, status, bình luận, chia sẻ thông tin, hình ảnh ... lên mạng xã hội, tránh vô tình vi phạm các vấn đề liên quan đến Luật An ninh mạng, lộ thông tin, bí mật của quốc gia và tổ chức. Thực hiện nghiêm các quy định về thẩm quyền phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của cơ quan hành chính nhà nước.
- Cần thay đổi thói quen chỉ đọc tiêu đề bài đăng trên mạng mà không đọc và kiểm chứng hết toàn bộ nội dung bài đăng đã nhanh tay chia sẻ, nhấn like và bình luận. Khi thực hiện livestream phải chú ý kiểm tra tất cả các yếu tố có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của cộng đồng như: ngôn từ, hình ảnh cá nhân và tổ chức, chất lượng sản phẩm ...
- Phải cân nhắc kỹ trước khi phát ngôn trên mạng, tránh dùng ngôn từ vô văn hóa, xúc phạm, thóa mạ, thiếu chuẩn mực dù ở trạng thái riêng tư hay công khai. Vì tất cả những hoạt động của chúng ta trên mạng xã hội (ảo) đều sẽ thể hiện bản chất con người chúng ta ở xã hội (thật). Do đó, mỗi ngôn từ của chúng ta trên mạng xã hội sẽ ảnh hưởng đến sự đánh giá về chúng ta từ bạn bè, đồng nghiệp, người thân, con cái ...
- Phải thể hiện được bản lĩnh chính trị, bản sắc tinh hoa của truyền thống Việt Nam trong mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khi sử dụng mạng xã hội. Thể hiện qua việc tiếp thu thông tin có chọn lọc, có kiểm chứng. Khi cần sử dụng thông tin cho công việc, phải truy cập và thu thập thông tin từ các trang web chính thống, trang web của các bộ, ngành có liên quan. Đồng thời, chia sẻ thông tin với mục đích lan tỏa những việc làm hay, những tấm gương tốt, làm giàu thêm kho tàng tri thức của xã hội cũng như góp phần xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực ứng xử văn hóa trên mạng xã hội.
- Tích cực tuyên truyền, phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội tại cơ quan đơn vị bằng nhiều hình thức khác nhau như: thông báo trên bảng tin, lồng ghép vào nội dung các cuộc họp, nghị quyết chuyên đề, bài giảng trong các chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hàng năm (ví dụ như chuyên đề Kỹ năng giao tiếp hành chính, Kỹ năng giao tiếp, ứng xử và quan hệ với truyền thông ...).
- Nói không với “rác” mạng, không cổ xúy các hành vi trái với Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Tiếp nhận có chọn lọc các sản phẩm văn hóa có chất lượng trên mạng xã hội phù hợp với văn hóa con người Việt Nam. Kiểm soát và định hướng được hành vi ứng xử văn minh của bản thân và người trong gia đình (anh chị em, con cái ...) khi dùng mạng xã hội: facebook, blog, zalo, instagram, tiktok ... vào mục đích cá nhân hay kinh doanh.
Việc ban hành kịp thời Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội của Bộ Thông tin và truyền thông, cùng với sự chung tay của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước chắc chắn sẽ giúp thay đổi thật sự hành vi và cách thức ứng xử trên mạng xã hội, tạo ra một môi trường văn hóa mạng lành mạnh, góp phần tích cực vào sự phát triển nhận thức, tư duy và kỹ năng sống của mỗi chúng ta khi sử dụng mạng xã hội, hướng đến hỗ trợ đắc lực cho công cuộc chuyển đổi số của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.
Th.S Đoàn Quang Duy Tuấn
Khoa Lý luận cơ sở
NHỮNG ĐIỂM MỚI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Sau khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Sau một thời gian triển khai thi hành, bên cạnh các kết quả đã đạt được, một số quy định của Luật này đã thể hiện sự bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh đó, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản về việc cải cách, đổi mới bộ máy nhà nước. Theo đó, để thể chế hóa các chủ trương của Đảng, nghị quyết của Quốc hội cũng như đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ngày 22/11/2019, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020 với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương. Mặt dù, các sửa đổi, bổ sung của Luật này đem lại nhiều quy định mới, tiến bộ, nhưng vẫn còn một số nội dung chưa được làm rõ và còn bỏ ngỏ một số vấn đề bất cập trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Trong phần này, chúng ta sẽ làm rõ về những điểm mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương để có cái nhìn cụ thể hơn:
Thứ nhất, về vấn đề phân cấp, phân quyền, ủy quyền
Trước đây, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 chỉ quy định các nội dung mang tính nguyên tắc về phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền, ủy quyền đối với chính quyền địa phương nhưng chưa quy định cụ thể việc đảm bảo các nguồn lực để thực hiện. Hiện nay, Luật mới đã quy định cụ thể hơn không chỉ phải đảm bảo điều kiện về nguồn nhân lực mà còn phải đảm bảo điều kiện về tài chính và các điều kiện cần thiết khác. Đồng thời, gắn việc phân quyền, phân cấp với cơ chế kiểm tra, thanh tra khi thực hiện phân cấp, phân quyền.
Mặt khác, để phòng tránh hiện tượng phân cấp, ủy quyền tràn lan, làm giảm trách nhiệm và hiệu lực quản lý nhà nước. Chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân cấp, phân quyền và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân cấp, phân quyền. Việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong luật. Luật mới xác định nguyên tắc đối với luật khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho chính quyền địa phương các cấp “phải quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể mà chính quyền địa phương ở từng cấp không được phân cấp, ủy quyền cho cơ quan nhà nước cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác”.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 chỉ quy định: “Trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể” mà không xác định rõ đó là cơ quan, tổ chức nào. Hiện nay, Luật mới cũng đã quy định cụ thể hơn: “Trong trường hợp cần thiết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản”.
Như vậy có thể thấy Luật mới đã sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ hơn, cụ thể hơn để tránh việc phân cấp, ủy quyền tràn lan, làm giảm hiệu lực quản lý trong thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thứ hai, về mô hình tổ chức chính quyền địa phương
Điều 111 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”.
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp, “chính quyền địa phương” và “cấp chính quyền địa phương” là hai thuật ngữ hoàn toàn khác nhau. Theo đó, ở tất cả các đơn vị hành chính đều có chính quyền địa phương, nhưng không phải mỗi đơn vị hành chính là một cấp chính quyền; mà “cấp chính quyền địa phương” phải được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Điều này có nghĩa là, nơi nào được xác định là “cấp chính quyền địa phương” sẽ tổ chức đầy đủ cả hai cơ quan là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và nơi nào xác định là “chính quyền địa phương” thì nơi đó chỉ tổ chức cơ quan quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của địa phương mà không thành lập Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, khi xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, các nhà lập pháp căn cứ vào tình hình thực tiễn cũng như các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội… chưa thực sự bảo đảm để áp dụng quy định mới của Hiến pháp năm 2013 về quy mô tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính. Do đó, Quốc hội quyết định tiếp tục giữ nguyên mô hình cấp chính quyền địa phương gồm Hội Đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tại tất cả các đơn vị hành chính ở nước ta, không có sự phân biệt giữa nông thôn, đô thị, hải đảo hay đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Khi nhu cầu cải cách nhằm tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế, đa dạng hóa mô hình tổ chức chính quyền địa phương để phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo đang trở nên cần thiết tại các địa phương, đặc biệt là các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, để tạo cơ sở pháp lý cho việc đa dạng hóa mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trước đây, tại khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này” thì đã được sửa đổi theo Luật mới như sau: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”. Điều 44 và Điều 58 về chính quyền địa phương ở quận và phường cũng được sửa đổi theo hướng: Chính quyền địa phương ở quận, phường là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân quận, phường và Ủy ban nhân dân quận, phường (trừ trường hợp khác do Quốc hội quy định) để tạo cơ sở pháp lý cho việc Quốc hội cho phép thí điểm các mô hình mới khi có điều kiện. Hiện nay, theo Nghị quyết số 97/NQ-QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội thì từ ngày 01/7/2021 Thành phố Hà Nội sẽ thí điểm không còn Hội đồng nhân dân phường, chỉ có Ủy ban nhân dân phường. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về mô hình tổ chức chính quyền địa phương là phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và sẽ tạo độ linh hoạt, mềm dẻo trong việc tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm ở nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, tránh tình trạng tổ chức đồng nhất như nhau giữa các địa phương.
Thứ ba, về cơ cấu tổ chức và số lượng đại biểu Hội Đồng nhân dân các cấp
- Khoản 1 Điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 quy định Tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Theo đó, đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng điều kiện có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, tức là có thể là người mang nhiều quốc tịch nhưng trong đó phải có quốc tịch Việt Nam. Việc bổ sung tiêu chuẩn về quốc tịch của đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm đảm bảo tính thống nhất với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội.
- Một trong những điểm đáng chú ý nhất của Luật mới là giảm số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân. Ngày 11/01/2021, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết số 1187/NQ-UBTVQH14 “Hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội Đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026”. Việc dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội Đồng nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính phải bảo đảm dân chủ, công tâm, khách quan, minh bạch; coi trọng chất lượng, lựa chọn đại biểu là những người tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, uy tín, trí tuệ. Giảm số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân ở tất cả các đơn vị hành chính để thực hiện chủ trương chung của Đảng, tiến tới tinh gọn bộ máy, tinh giảm biên chế, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả.
- Quy định giảm số lượng phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Đối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 bao gồm 02 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, tuy nhiên hiện nay quy định này được sửa đổi như sau: Trường hợp Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách thì có 01 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; trường hợp Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động không chuyên trách thì có 02 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách. Tương tự số lượng Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, đối với các Phó ban Hội đồng nhân dân thì trường hợp Trưởng ban hoạt động chuyên trách thì có 01 Phó ban. Trường hợp Trưởng ban hoạt động không chuyên trách thì có 02 Phó ban. Đối với Hội đồng nhân dân cấp huyện, Luật mới cũng quy định chỉ bao gồm 01 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thay vì 02 Phó Chủ tịch như Hội đồng nhân dân trước đây.
- Không quy định Chánh văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc cơ cấu của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tại khoản 2 Điều 18 và khoản 2 Điều 39. Đồng thời, bỏ các quy định liên quan đến việc bầu, lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh này tại điểm a khoản 2 Điều 19, khoản 2 Điều 83 và điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Để dự liệu trước cho việc sắp xếp, tổ chức lại các văn phòng sau khi thực hiện thí điểm, Luật mới chỉ quy định khái quát về cơ quan, chức năng, nhiệm vụ; còn tên gọi, mô hình, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và biên chế của bộ máy giúp việc chính quyền địa phương do Chính phủ quy định.
- Không còn khái niệm “họp bất thường” thay vào đó đã được sửa đổi thành “họp để giái quyết công việc phát sinh đột xuất hoặc họp chuyên đề” tại khoản 2 và khoản 3 Điều 78, khoản 2 và khoản 3 Điều 80, khoản 1 và khoản 3 Điều 97, khoản 2 Điều 113, khoản 4 Điều 114 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Thứ tư, về số lượng Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã loại II
Luật mới thay đổi cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp xã. Trước đây, quy định cấp xã loại II có 01 Phó Chủ tịch, tuy nhiên Luật mới đã sửa đổi theo hướng tăng số lượng Phó Chủ tịch UBND xã loại II lên không quá 02 Phó Chủ tịch. Việc tăng số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã loại II là hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu và thực tiễn của các địa phương cũng như phù hợp với nhu cầu chỉ đạo, điều hành công việc của chính Ủy ban nhân dân cấp xã loại II. Mặt khác, việc tăng thêm một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã loại II thực chất chỉ tăng thêm chức danh này trong tổng số cán bộ, công chức cấp xã quy định tại Nghị định số 34/2019/NĐ-CP của Chính phủ mà không làm tăng biên chế của cả nước.
Th.s Nguyễn Thị Thành Minh
Khoa Nhà nước và Pháp luật







